Thủ thuật tin học

Thủ thuật tin học

Máy tính là gì ?

Thủ thuật tin học
Thủ thuật tin học

Thủ thuật tin học

Hệ điều hành là gì ?

Thủ thuật tin học
Thủ thuật tin học

Thủ thuật tin học

Word office là gì ?

Thủ thuật tin học
Thủ thuật tin học

Thủ thuật tin học

Trình duyệt web

Thủ thuật tin học
Thủ thuật tin học

Thủ thuật tin học

Bác sĩ máy tính

Thủ thuật tin học

Thứ Năm, 26 tháng 9, 2013

Bài đăng dưới đây là bản dịch của bài viết Humanaties as spectacle được đăng trên tờ Inside Higher Education vào cuối tháng 7 tại địa chỉ: http://www.insidehighered.com/views/2013/07/30/essay-building-audience-humanities. Tác giả của nó đưa ra một giải pháp vô cùng lý thú cho sự xuống dốc của khối ngành nhân văn trong các trường đại học, đó là: hãy đối xử với ngành nhân văn như một ngành nghệ thuật biểu diễn. Điều này thực đúng, như ta có thể thấy ngay ở VN: nếu như hiện nay ngành nhân văn không mấy ai vào học, thì những buổi Cafe Thứ bảy, hoặc những diễn thuyết của các nhà văn, nhà sử học, triết học vv vẫn luôn đông người, và đặc biệt là rất nhiều người trẻ. Ví dụ như buổi trao đổi về cuốn Ngàn năm áo mũ của Trần Quang Đức gần đây. 

Bài viết thú vị đến nỗi tôi thấy cần phải dịch nó ra và phổ biến cho nhiều người đọc hơn nữa. Tôi đã dịch, và đã gửi cho Tạp chí Tia Sáng, tờ tạp chí mà tôi cộng tác quen thuộc lâu nay. Nay bài đã đăng lên (tại đây: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=115&CategoryID=41&News=6749), nên tôi đưa về đây để lưu và chia sẻ với mọi người.

Enjoy các bạn nhé!
--------------


Lời giới thiệu:

“Sự khủng hoảng của các ngành nhân văn” là một vấn đề đã làm đau đầu các nhà chính sách giáo dục của Hoa Kỳ trong nhiều năm qua. Gần đây nhất, Quốc hội Hoa Kỳ đã đặt hàng cho Viện Nghệ thuật và Khoa học Hoa Kỳ thực hiện một nghiên cứu để tìm ra những giải pháp cho tình trạng nói trên. Kết quả của nghiên cứu trên được nêu trong một báo cáo dài 88 trang, mới được công bố trong tháng 7 vừa qua. Nhưng theo nhận định của giới chuyên môn thì báo cáo nói trên dù được thực hiện bởi những tên tuổi trong ngành, dường như vẫn quá chung chung và không đưa ra được các giải pháp khả thi để giải quyết sự khủng hoảng của khối ngành nhân văn. Mọi việc dường như đang trong vào tình trạng bế tắc và không có lối thoát.

Tuy nhiên, Matti Bunz, tác giả của bài viết được đăng trên trang Inside Higher Education vào cuối tháng 7 vừa qua, tình trạng của các ngành nhân văn không bi đát đến thế, và giải pháp cho tình trạng hiện nay có thể đến bằng một con đường rất bất ngờ. Theo tác giả, có một cách làm rất đơn giản mà chắc chắn sẽ thành công, vì chính ông đã có kinh nghiệm áp dụng đến hơn hai thập niên. Hãy nghe tác giả kết luận bài viết của mình: “Hãy bắt chước chúng tôi!”

Xin trân trọng giới thiệu bài viết của Matti Bunz đến tất cả bạn đọc.



Ngành nhân văn dưới góc nhìn của nghệ thuật biểu diễn

Matti Bunzl

Phương Anh dịch và giới thiệu

Một vài tuần đã trôi qua kể từ khi bản báo cáo do Quốc hội Hoa Kỳ đặt viết về tình trạng của các ngành khoa học xã hội và nhân văn có tựa đề là "The Heart of the Matter”[1](“Cốt lõi của vấn đề”) được Viện Nghệ thuật và Khoa học Hoa Kỳ công bố. Mặc dù nội dung của bản báo cáo này không có gì đáng để chỉ trích – nó chứa đầy những phát biểu về tầm quan trọng của giáo dục và về tinh thần công dân – nhưng nỗi đau của các ngành nhân văn vẫn còn chưa dứt.

Chỉ riêng trong tờ New York Times cũng đã có thể tìm được những lời phản đối của ba nhà bình luận chính trị tầm cỡ. David Brooks, một thành viên của nhóm nghiên cứu, than vãn về tình trạng “tự tử tập thể” của các giáo sư ngành nhân văn; Verlyn Klinkenborg thì thở than về sự xuống dốc và sụp đổ của ngành ngữ văn[2], còn Stanley Fish thì chỉ trích báo cáo này là tầm thường và nhạt nhẽo và những "khuyến nghị của nó chỉ có thể có kết quả trong xã hội không tưởng "(và vì là một người theo chủ nghĩa Milton, ông biết rõ chúng ta tất nhiên không đang sống trong xã hội không tưởng).

Đã có những nỗ lực dũng cảm để chống đỡ những lời phê phán ảm đạm gần đây về “sự khủng hoảng của các ngành nhân văn.”

Nhưng ngay cả nếu "sĩ số trong những lớp học của chúng ta không bị giảm sút", thì chúng ta vẫn chưa đề cập đến công chúng nói chung. Và ở đây, vẫn tồn tại một tranh luận chưa ngã ngũ: cho đến nay, sự thật hiển nhiên là các ngành nhân văn hoàn toàn "thất bại trong quan hệ công chúng" (Fish đang nhại lời của Klinkenborg[3]). Các ngành nhân văn rõ ràng không thể giải thích được tại sao chúng lại cần thiết đối với mọi người. Vì vậy chẳng ngạc nhiên gì nếu như công chúng không mấy quan tâm gì đến những nỗ lực của họ.

Mặc dù vấn đề tiếp thị là rất quan trọng đối với cuộc tranh luận này, nhưng hiện nay hầu như không ai nhắc tới nó. Riêng với tôi, nó đặt ra một câu hỏi rất cơ bản: tại sao những người giảng dạy trong ngành xã hội nhân văn lại phải tự quảng cáo cho mình? Những người hoạt động trong các lĩnh vực sáng tạo khác đều có các nhà quản lý, đại lý và các nhà quảng cáo cho họ, chưa kể là còn có các hãng phim, nhà hát, phòng trưng bày và bảo tàng – nói cách khác là những điều kiện giúp cho họ tập trung vào những gì họ làm tốt nhất; đó là: sáng tạo.

Nếu có một tổ chức tương tự như tôi đã nói ở trên thì nó hoạt động như thế nào nhỉ? Thật may, tôi đang lãnh đạo một tổ chức như thế: Tổ chức Lễ hội nhân văn Chicago (Chicago Humanities Festival)[4], nơi tôi đang là giám đốc nghệ thuật, cũng là tổ chức lớn nhất của loại hình này tại Hoa Kỳ. Thật ra, tổ chức của chúng tôi đã được nêu tên ngay trong báo cáo "The Heart of the Matter", được ca ngợi về sự thành công trong việc "thu hút các học giả và các nghệ sĩ đến chia sẻ niềm đam mê và tài năng của họ với khán giả mới."

Lễ hội nhân văn Chicago đã hoạt động được đến năm thứ 24. Đợt lễ hội mùa thu hàng năm của chúng tôi tổ chức khoảng 100 sự kiện về  cùng một chủ đề. Lượng người tham gia là khoảng 50.000 lượt, và có hàng trăm ngàn lượt khán giả thưởng thức các sản phẩm của chúng tôi dưới hình thức kỹ thuật số. Rõ ràng đó không phải là sự thất bại về quan hệ cống chúng – chúng tôi tin như thế.

Nhưng chúng tôi đã làm điều đó như thế nào? Làm cách nào mà chúng tôi lại có thể thu hút được hàng ngàn người đến nghe các giáo sư thuộc các ngành nhân văn giảng bài?

Thực ra, mọi việc khá đơn giản: chúng tôi xem các diễn giả như các ngôi sao và các sự kiện của chúng tôi như các buổi biểu diễn.

Tôi nghĩ, để hiểu sự thành công của chúng tôi thì tốt nhất là so sánh cách chúng tôi vận hành với cách vận hành của một chương trình đại học điển hình. Ừ, các bài giảng trong trường cũng miễn phí và mở rộng cho công chúng. Nhưng công chúng làm cách nào để biết được điều ấy? Những tờ thông báo xấu xí dán trên bảng thông báo hẳn khó lòng thu hút được sự chú ý của công chúng. Và công chúng hẳn chẳng thích thú gì với những bài thuyết trình chuyên sâu và khô khan. (Ở đây tôi muốn nói thêm rằng với tư cách là một giảng viên đại học, tôi có thể cũng rất thích thú khi đọc các thông báo dày đặc chữ trên các listserv, tuy nhiên cũng phải nhấn mạnh rằng tôi đã có sẵn sự yêu thích đối với những sản phẩm đó rồi.)

Tất cả những gì chúng tôi làm tại Lễ hội nhân văn Chicago đều nhằm phá vỡ những rào cản như vậy. Chúng tôi viết các bản quảng cáo đầy khiêu khích về các sự kiện của chúng tôi, đăng quảng cáo trên khắp các phương tiện thông tin đại chúng địa phương, và hối thúc báo đài đã đăng quảng cáo phải viết tin về các sự kiện của chúng tôi.

Và chúng tôi đảm bảo rằng các tài năng mà chúng tôi muốn giới thiệu phải được xuất hiện một cách nổi bật nhất. Chúng tôi phải chuẩn bị sắp xếp sân khấu và phông nền, đồng thời chuẩn bị âm thanh một cách kỹ lưỡng nhất. Quan trọng hơn, chúng tôi dành rất nhiều thời gian để suy nghĩ về việc giới thiệu các “diễn viên” của chúng tôi đến công chúng. Vị giáo sư lịch sử của Đại học Harvard mà chúng tôi mời đến có thói quen nói dài khi diễn thuyết chăng? Không sao, chúng tôi sẽ sắp xếp cho ông trao đổi với nhà báo có phong cách nhẹ nhàng nhưng kiên quyết và hiểu biết rất sâu sắc về vấn đề mà giáo sư đó sẽ trình bày. Người ta lo ngại về tính hàn lâm của bài báo cáo về triết học Châu Âu chăng? Không sao, chúng tôi sẽ huấn luyện cho người trình bày cách tận dụng các phương tiện truyền thông để bài trình bày sao cho sinh động hơn.

Với tất cả sự chuẩn bị này, chúng tôi có được một lượng đông đảo khán giả háo hức, những người mà sau khi đắm mình trong sự uyên bác của các diễn giả (và đôi khi chính bản thân họ cũng đưa ra những câu hỏi sâu sắc một cách bất ngờ), sẽ trở về một cách háo hức muốn trở lại để nghe nữa.

 Cách làm chúng tôi làm chẳng khác gì cách vận hành của các tổ chức văn hóa khác. Ví dụ như trong việc biểu diễn opera, một lĩnh vực mà nếu xét theo cái nhìn khắt khe của thời đại ngày nay thì chẳng lấy gì làm thực dụng lắm. Khi người ta lên kế hoạch để mời giọng nữ cao Anna Netrebko đến biểu diễn tại Chicago trong mùa biểu diễn 2012-13, điều đó đã gây ra cơn sốt chờ đợi của những tín đồ opera địa phương. Nhưng đối với nhiều khách hàng quen thuộc của nhà hát Lyric Opera, cô ấy chỉ là một nghệ sĩ không tên không tuổi. Vì vậy, nhà hát cần phải tạo ra sự kích động về sự xuất hiện của cô không kém gì ca sĩ opera lừng danh Mimi[5], chưa kể là phải cung cấp cho cô ấy mọi đạo cụ sân khấu cần thiết để đảm bảo một buổi diễn tối ưu. Kết quả là buổi diễn đã cháy vé và gần như tạo ra một hiệu ứng cuồng loạn tập thể (tất nhiên là theo nghĩa tốt).

Vậy tại sao các ngành nhân văn lại làm khác? Rõ ràng, trong giới hàn lâm, chúng ta cũng thừa nhận những nhân vật như Julia Kristeva, Frans de Waal, và Maria Tatar là những ngôi sao (chúng tôi nêu tên ba diễn giả sẽ đến trình bày cho chúng tôi trong Festival mùa Thu năm nay về chủ đề “Động vật: Điều gì giúp phân biệt con người với các động vật khác”). Nhưng cũng giống như một diva opera hạng trung, họ cần được tiếp thị chuyên nghiệp và được đạo diễn cẩn thận để thu hút khán giả. Với tư cách là nhà tổ chức biểu diễn trong lĩnh vực nhân văn thì đó chính là công việc của chúng tôi. Sau 24 năm kinh nghiệm, giờ đây chúng tôi đã biết làm điều đó như thế nào.

Hãy bắt chước chúng tôi!


[2] Bản gốc tiếng Anh ghi là ngành English, dịch chính xác là ngành Anh văn, nhưng thực ra đây là ngành nghiên cứu Ngôn ngữ và Văn học Anh dành cho sinh viên bản ngữ, tức tương tự như ngành Ngữ văn của Việt Nam.
[3] Cả Fish lẫn Klinkenborg đều là tác giả của nhiều bài viết về sự xuống dốc của khối ngành nhân văn trên tờ New York Times. Ví dụ như những bài gần đây: http://www.nytimes.com/2013/06/23/opinion/sunday/the-decline-and-fall-of-the-english-major.html;  http://opinionator.blogs.nytimes.com/2013/06/24/a-case-for-the-humanities-not-made/?_r=0
[4] http://chicagohumanities.org/
Người đăng: Unknown

Thứ Tư, 11 tháng 9, 2013

Entry ngắn này tôi viết nhân đọc một bài viết trên fb của nhà báo NVP, vốn cũng là một giảng viên tiếng Anh ở trường ĐHSP. Một bài viết rất hay về việc dùng từ Welcome ở VN. Xin đọc tại đây: https://www.facebook.com/nguyenvanphu/posts/10201410210090859.

Trong bài trên, anh NVP có nhận xét về cách dùng sai từ Welcome trong khẩu hiệu chào mừng 40 năm quan hệ ngoại giao VN và UK, những khẩu hiệu hiện đang treo đầy đường phố SG. Xin trích một đoạn ở đây:

Đó là câu “Welcome to the 40th anniversary of diplomatic relations between the Socialist Republic of Vietnam and the United Kingdom”, với câu tiếng Việt tương đương “Nhiệt liệt chào mừng kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Anh”.

Câu hỏi mà bài viết của anh NVP đặt ra cho người đọc, trong đó có tôi, là nên dịch khẩu hiệu nói trên như thế nào nhỉ? Và dưới đây là câu trả lời - well, gợi ý - của tôi.

Nhiệt liệt chào mừng thì chắc chắn là Tây không nói rồi, vì đó là kiểu nói của VN (có lẽ ảnh hưởng tiếng Hán chăng). Nhưng họ vẫn có một từ tương đương để dùng trong những dịp như thế này, đó là từ "commemorate". Dịch chính xác từ này ra tiếng Việt thì nó là "(tổ chức) kỷ niệm". Còn "40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao" thì anh Phú đã nói rồi, nhưng tôi thấy khẩu hiệu trên của TP HCM dịch không sai, vì nhiều nơi cũng dịch tắt như thế (không cần từ "thiết lập"). Ví dụ như trên trang của Chính phủ Úc có viết: "40th anniversary of diplomatic relations"

Xem tại đây: http://www.dfat.gov.au/acc/our-relations/40th-anniversary-of-diplomatic-relations.html

Khẩu hiệu nói trên vì vậy chỉ cần thay mấy từ "Welcome to" thành "Commemorating" là được. Tuy nhiên, tôi nghĩ kiểu nói "diplomatic relations between the Socialist Republic of Vietnam and the United Kingdom” vừa dài dòng không cần thiết, vừa không hay, nên được đổi lại thành "Vietnam - UK diplomatic relations".

Và như vậy, khẩu hiệu vừa nêu nên được dịch thành: "Commemorating the 40th anniversary of Vietnam-UK diplomatic relations", vì như thế là chính xác đến từng chữ (well, gần như từng chữ) mà không làm sai tiếng Anh, không rơi vào tình trạng đọc lên thấy ... kỳ kỳ!

Từ commemorate cũng được dùng trên báo chí ở nhiều nơi, ví dụ như trong những links sau:

http://www.philstar.com/letters-editor/518676/fiesta-filipinas-commemorating-40th-anniversary-rp-singapore-diplomatic

http://www.cie.mie-u.ac.jp/en/cier/new/commemoration-of-the-40th-anniversary-for-the-normalization-of-diplomatic-relations-between-japan-an.html

http://www.chihiro.jp/global/en/tokyo/exhibition/02.html?keepThis=true&TB_iframe=true&height=440&width=407

http://www.state.gov/r/remarks/2013/207366.htm

Thực ra, còn một từ khác có thể sử dụng để diễn đạt khẩu hiệu trên, đó là từ "celebrating" (nghĩa đen là "ăn mừng"); từ này cũng được nhắc đến trong bài viết của anh NVP. Nếu tra trên mạng bạn cũng sẽ tìm thấy nhiều câu có dùng từ celebrating. Tuy nhiên, theo tôi thì "celebrating" nhấn mạnh các hoạt động (triển lãm, hội thảo, văn nghệ, chiêu đãi) nhân dịp kỷ niệm, còn "commemorating" thì tổng quát hơn, chủ yếu nhắc đến dịp kỷ niệm, còn nhân dịp này người ta celebrate như thế nào thì lại là chuyện khác. Và tôi nghĩ khẩu hiệu đang treo trên đường phố có ý nghĩa tổng quát. Từ "celebrating" có lẽ hợp hơn khi nói đến một số hoạt động cụ thể nào đó.

Tuy nhiên, vẫn còn một việc đáng bàn. Tôi vẫn cảm thấy cái khẩu hiệu bắt đầu bằng "commemorating" (hoặc "celebrating") là kỳ kỳ, không đúng kiểu tiếng Anh. Thực ra, tiếng Anh là một ngôn ngữ không thích động từ, trừ phi bắt buộc. Các khẩu hiệu, bảng hiệu, hoặc tựa sách báo vv trong tiếng Anh đa số đều dùng danh từ. Commemorating/Celebrating thì cũng là một loại danh từ rồi đó, nhưng mà là "danh động từ", tức là động từ nhưng chuyển sang dạng danh từ để phù hợp với chức năng trong câu. Vì là "danh động từ" nên nó vẫn có cái nằng nặng của động từ, nghe không thanh.

Vì vậy, theo tôi chỉ cần dùng: "40th anniversary of Vietnam-UK diplomatic relations" hoặc thậm chí "... diplomatic ties" như cách dịch của anh NVP thì lại càng hay hơn nữa. Vì nghe nó nhẹ nhàng, tự nhiên, không nặng nề, rổn rảng. Không giống như tiếng Việt, cái gì cũng phải nói rõ ra, lại còn phải kêu lốp bốp nữa, thì mới ... hay!

Nói gọn trong một câu: Do khác biệt văn hóa, nên dịch cũng phải khác!

Các bạn trao đổi thêm nhé?
Người đăng: Unknown

Thứ Ba, 10 tháng 9, 2013

Đó là tựa của một bài viết mới trên trang Transparent Language Online mà theo tôi là - dù không hẳn là mới - có nhiều điểm đáng lưu tâm đối với người học ngoại ngữ ở VN.

Bản đầy đủ xin bạn đọc ở trang gốc, link đây: http://blogs.transparent.com/language-news/2013/09/09/7-ways-to-develop-good-habits-in-language-learning/. Còn dưới đây tôi xin nêu bảy biện pháp đó kèm lời dẫn giải của tôi, để bạn suy nghĩ áp dụng nếu thấy phù hợp.

1. Tạo mục tiêu - Vâng, đúng ạ, làm gì cũng phải có mục tiêu và bám sát mục tiêu, thì mới có thể thành công được. Và đã là mục tiêu, thì phải SMART - tức là specific, measurable, achievable, realistic, và time-bound. Cụ thể, đo được, đạt được, thực tế, và có hạn định. Ví dụ: Sau 1 tháng sẽ nắm vững hệ thống thì (tenses) của tiếng Anh. Hoặc sau 6 tháng sẽ đạt được trình độ A2 (trình độ A2 là gì, xin các bạn xem lại những bài viết về Khung quy chiếu châu Âu CEFR).

2. Sắp xếp chỗ học thuận tiện - Tưởng là điều không quan trọng, hóa ra lại rất quan trọng bạn ạ. Theo tôi nên tối thiểu có một cái bàn, một kệ sách nhỏ với những tài liệu và từ điển, một laptop hoặc desktop computer có loa, âm thanh tốt, và phần mềm video player vv. Không gian yên tĩnh, mát mẻ, thoải mái thì sẽ dễ tiếp thu hơn. Tất nhiên theo điều kiện của từng người.

3. Xác định tiến độ - Bạn sẽ biết rõ nhất mình nên học với tốc độ như thế nào, vì điều này tùy thuộc vào thói quen học tập và điều kiện thời gian của bạn. Nên nhớ: Dục tốc bất đạt! Tôi nhớ trước năm 1975 có tác giả nào đó đã nói: trong việc học ngoại ngữ, tốc độ tốt nhất là "từ từ và đều đều". Và tôi hoàn toàn đồng ý!

4. Tận dụng thời gian chết - Trong ngày của bạn sẽ có những khoảng thời gian chết. Hãy tận dụng chúng cho việc học ngoại ngữ. Chẳng hạn, mở máy nghe nhạc bằng tiếng nước ngoài khi ngồi trên xe buýt, hoặc khi làm bếp, làm việc nhà vv. Điều này sẽ giúp bạn tiếp thu ngôn ngữ một cách tự nhiên, tương tự như khi học tiếng mẹ đẻ.

5. Tự kiểm tra sau mỗi tháng - Đều đặn hàng tháng, bạn nên tự kiểm tra lại những gì mình đã đạt được. Sự kiểm tra đều đặn này giúp bạn kết nối mục tiêu đã đặt ra và những thành quả đã đạt được (hoặc chưa đạt được) và điều chỉnh việc học của mình.

6. Tự điều chỉnh cách học - Bạn biết rồi đấy, sau mục 5 ở trên thì bạn sẽ hiểu là mình cần điều chỉnh những gì.

7. Tự biết mình - Ý của tác giả ở đây là, nếu bạn thấy mình chậm đạt mục tiêu thì chỉ có bạn mới hiểu được điều đó là do đâu. Đôi khi cần điều chỉnh mục tiêu, vì có thể cuộc sống của bạn không cho phép bạn dành nhiều thời gian hơn cho việc học ngoại ngữ. Chỉ cần "từ từ và đều đều", rồi thì bạn sẽ giỏi ngoại ngữ hồi nào không hay!

Dễ quá phải không các bạn?
Người đăng: Unknown

Thứ Bảy, 7 tháng 9, 2013

Trong tổng số 8 nước ASEAN được xếp hạng về tính hiệu quả của hệ thống giáo dục, Việt Nam đứng vị trí thứ 2… từ dưới lên, sau đúng Thái Lan. Kết quả xếp hạng này do Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) đánh giá dường như trái ngược với những bản báo cáo thành tích về số lượng dày đặc các học sinh giỏi, học sinh tốt nghiệp, Thạc sĩ, Tiến sĩ, Giáo sư tại Việt Nam.
Giáo dục Việt Nam còn thua cả Campuchia
Cụ thể, theo báo cáo về tính Cạnh tranh toàn cầu của WEF được công bố vào đầu tháng 9, Singapore, Malaysia và Brunei Darussalam lần lượt giữ các vị trí hàng đầu. Trong khi đó, Campuchia đứng thứ 6, Việt Nam thứ 7 và Thái Lan ở cuối bảng. Lào và Myanmar không được WEF xếp hạng.
 
Bản báo cáo của WEF nhấn mạnh, tiềm lực tài chính không phải là yếu tố quan trọng nhất để bảo đảm chất lượng cho nền giáo dục và việc trả lương cao cho giáo viên chưa hẳn đã mang lại một khả năng giảng dạy thích hợp.
 
Phản ứng về bản báo cáo này trên tờ Bankok Post ngày 4/9, ông Sathon Vijarnwannaluk, một giảng viên tại khoa khoa học CU tại Bangkok cho rằng, kết quả chỉ phản ánh tính cục bộ địa phương do mẫu khảo sát (theo thang điểm từ 1-7) chỉ lấy ý kiến của người Thái. Điều này cho thấy, người Thái không có niềm tin vào hệ thống giáo dục chứ chưa thể khẳng định chất lượng giáo dục của Thái Lan là thấp nhất. Tuy nhiên, Sompong Jitradup, giảng viên Khoa giáo dục CU đã thành thật thừa nhận, khảo sát đã phản ánh một phần sự thật, đặc biệt tình trạng xã hội phân hóa, chất lượng giáo dục không đạt chuẩn. Còn ông Phongthep Thepkanchana, Phó Thủ tướng Thái Lan không ngại ngần thừa nhận thực trạng giáo dục yếu kém trong nước và khẳng định Thái Lan có đù nguồn lực và khả năng để vực dậy các chương trình đào tạo cũng như chất lượng giáo viên.
 
PGS.TS Phạm Văn Sơn, Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ đào tạo và cung ứng nguồn nhân lực đánh giá trên báo Đầu Tư (3/9), nếu Việt Nam không giải quyết được bài toán nguồn nhân lực chất lượng, thì các doanh nghiệp sẽ tụt giảm sức cạnh tranh và mãi dậm chân ở mắt xích cuối cùng của chuỗi cung ứng toàn cầu.
Tại Việt Nam, thực trạng giáo dục tụt hậu vẫn luôn vấn đề nhức nhối. Chỉ riêng trong giáo dục đại học, từ năm 1992, ngay trong báo cáo “Phân Tích về Giáo Dục và Tài Nguyên Nhân Lực” do UNESCO cùng UNDP và Bộ Giáo Dục phối hợp nghiên cứu đã cho thấy sự giảm sút trầm trọng về chất lượng ở giáo dục. Và tình trạng giáo dục ở các cấp khác cũng không là ngoại lệ.
 
Nếu như kết quả WEF chỉ được coi là phản ánh tình trạng người dân Việt Nam mất niềm tin vào chất lượng giáo dục nước nhà thì đánh giá của Ngân hàng Thế giới cho thấy rõ hơn tình thế tụt hậu khi Việt Nam chỉ đạt 3,79/10 điểm về chất lượng lao động, đứng thứ 11/12 nước châu Á được xếp hạng. Tụt hậu kinh tế song hành cùng tụt hậu giáo dục sẽ đẩy một quốc gia vào ngõ hẹp khi chất lượng lao động không đủ nguồn lực tái tạo. Nghĩa là một tương lai sẽ đến, không đẹp như các bản báo cáo thành tích.
 
 
Vân Du
Người đăng: Unknown

Thứ Tư, 28 tháng 8, 2013

"Cốt lõi của vấn đề" (The Heart of the Matter) là tên gọi của một bản báo cáo vốn là kết quả nghiên cứu của Viện Nghệ thuật và Khoa học Hoa Kỳ mới công bố trong tháng 7/2013 này. Báo cáo này dài 88 trang, được thực hiện theo đặt hàng của Quốc hội Hoa Kỳ nhằm tìm ra những giải pháp cho "sự khủng hoảng của các ngành nhân văn".

Một báo cáo đáng đọc, mặc dù dường như nó chưa làm cho các học giả Hoa Kỳ, đặc biệt là những người hoạt động trong khối ngành nhân văn, thực sự hài lòng. Như có thể thấy trong đoạn trích sau đây của một bài viết trên tờ Inside Higher Education cũng trong tháng 7/2013 (link ở đây: http://www.insidehighered.com/views/2013/07/30/essay-building-audience-humanities):

Mặc dù nội dung của bản báo cáo này không có gì đáng để chỉ trích – nó chứa đầy những phát biểu về tầm quan trọng của giáo dục và về tinh thần công dân – nhưng nỗi đau của các ngành nhân văn vẫn còn chưa dứt.

Chỉ riêng trong tờ New York Times cũng đã có thể tìm được những lời phản đối của ba nhà bình luận chính trị tầm cỡ. David Brooks, một thành viên của nhóm nghiên cứu, than vãn về tình trạng “tự tử tập thể” của các giáo sư ngành nhân văn; Verlyn Klinkenborg thì thở than về sự xuống dốc và sụp đổ của các ngành ngữ văn, còn Stanley Fish thì chỉ trích báo cáo này là tầm thường và nhạt nhẽo, và những "khuyến nghị của nó chỉ có thể có kết quả trong xã hội không tưởng "(và vì là một người theo chủ nghĩa Milton, ông biết rõ chúng ta tất nhiên không đang sống trong xã hội không tưởng).

Các bạn có thể download báo cáo "Cốt lõi của vấn đề" nói trên để đọc và phán đoán xem phê phán của các học giả Hoa Kỳ có thực sự thỏa đáng hay không. Link đây: http://humanitiescommission.org/. Nhưng theo tôi thì dù báo cáo có làm hài lòng các học giả Hoa Kỳ hay chưa thì nó vẫn có nhiều điều cho các nhà chính sách giáo dục của VN quan tâm và học hỏi, vì chúng ta cũng đang có một cuộc khủng hoảng tương tự, nếu không nói là trầm trọng hơn. Trong khi đó, chúng ta chưa hề có một nghiên cứu nào đến nơi đến chốn về vấn đề này, ngoài những lời than van trên báo chí, hoặc những trao đổi cá nhân.

Tôi nghĩ, báo cáo này cần được dịch toàn bộ để cho các trường đại học có đào tạo khối ngành nhân văn nghiên cứu kỹ lưỡng. Tất nhiên, việc ấy sẽ mất thời gian, và chắc chắn là cần phải có ít nhiều kinh phí để trả cho người làm (mà phải trả tử tế chút, vì dịch báo cáo đó chắc là không dễ, do nó đòi hỏi những hiểu biết về bối cảnh của nước Mỹ và những vấn đề chuyên môn của khối ngành nhân văn). Hy vọng các trường đại học, các viện nghiên cứu lớn của VN có đủ quan tâm, nhiệt huyết và điều kiện về kinh phí vv để làm điều này, dù chẳng biết đến bao giờ. Còn trong khi chờ đợi (!) thì tôi tạm viết entry ngắn này để giới thiệu vậy.

Xin dịch những lời mở đầu và tóm tắt một vài đoạn trong bài viết giới thiệu báo cáo này trên tờ Inside Higher Education để hầu các bạn ở dưới đây.

Who will lead America into a bright future? 

Citizens who are educated in the broadest possible sense, so that they can participate in their own governance and engage with the world. An adaptable and creative workforce. Experts in national security, equipped with the cultural understanding, knowledge of social dynamics, and language proficiency to lead our foreign service and military through complex global conflicts. Elected officials and a broader public who exercise civil political discourse, founded on an appreciation of the ways our differences and commonalities have shaped our rich history. We must prepare the next generation to be these future leaders.

Ai sẽ dẫn dắt nước Mỹ đến một tương lai tươi đẹp?

[Chính là] những công dân được giáo dục theo nghĩa rộng nhất của từ này, để họ có thể tham gia vào việc điều hành chính cuộc sống của mình và hội nhập với thế giới. Một lực lượng lao động có tính thích nghi và sáng tạo. Những chuyên gia về an ninh quốc gia, được trang bị với vốn hiểu biết về văn hóa, hiểu biết về các động lực của xã hội, và có năng lực ngôn ngữ để lãnh đạo ngành ngoại giao và quân đội qua những cuộc xung đột toàn cầu phức tạp. Những viên chức do dân chọn và một công chúng rộng rãi hơn, những người sẽ thực hiện các diễn ngôn chính trị của công dân, dựa trên hiểu biết rằng chính những khác biệt cũng như những điểm chung của chúng ta đã tạo nên lịch sử phong phú của đất nước này. Chúng cần chuẩn bị cho thế hệ tương lai của chúng ta trở thành những nhà lãnh đạo tương lai như thế.

Thật là những lời hùng biện, phải không các bạn? Nhưng họ sẽ thực hiện lời kêu gọi này như thế nào? À, tất nhiên là thông qua các ngành nhân văn. Dù khối ngành này đang xuống dốc, well, khủng hoảng.

Làm thế nào để thúc đẩy sự phát triển của khối ngành nhân văn, đó chính là toàn bộ nội dung của báo cáo. Một vài điểm đáng chú ý có thể nêu ra ở đây: Phải có sự quan tâm, đầu tư của chính phủ vào khối ngành này; phải tích hợp các môn nhân văn vào chương trình giảng dạy đại học cho tất cả các ngành; phải quan tâm đến cả việc giảng dạy các môn nhân văn ở trung học .... Và trên hết, là phải làm cho toàn xã hội ý thức về tầm quan trọng của khối ngành nhân văn đối với sự phát triển và tồn vong của một quốc gia.

Xin đọc một đoạn trích  trong bài viết giới thiệu báo cáo nói trên được đăng trên tờ Inside Higher Education:

Steven Knapp, president of George Washington University and a member of the commission, said the report aimed not to diminish the so-called STEM (science, technology, engineering and math) fields, but rather to ensure that the humanities and social sciences don’t get “neglected” in higher education discussions that increasingly are focused on immediate, practical goals.
“The main thing about this is to start a conversation and a national dialogue about the possibility of losing something that’s really critical to the health of our nation here,” said Knapp, who has testified before Congress as to the value of the humanities. “It’s about keeping alive and present all those sources knowledge of that are perceived by other nations as something to emulate.”

Steven Knapp, Hiệu trưởng ĐH George Washington và cũng là một thành viên của Hội đồng [tức nhóm thực hiện nghiên cứu và viết báo cáo The heart of the matter] cho biết báo cáo không nhằm làm giảm tầm quan trọng của khối ngành STEM (khoa học, kỹ thuật, công trình và toán học), mà chỉ nhấn mạnh đừng để các ngành nhân văn và xã hội rơi vào tình trạng bị "bỏ quên" trong các cuộc đối thoại về giáo dục đại học mà hiện nay dường như chỉ chú trọng vào những mục tiêu thực dụng trước mắt.

"Điều quan trọng nhất hiện nay là bắt đầu một cuộc đối thoại ở cấp quốc gia về khả năng chúng ta có thể đánh mất một điều gì đó thực sự hệ trọng đối với sự tồn vong của dân tộc," ông Knapp phát biểu. Ông là người đã ra điều trần trước Quốc hội về giá trị của khối ngành nhân văn. "Đó là việc gìn giữ và phổ biến tất cả những kiến thức về những gì mà các dân tộc khác xem là điều cần phải học hỏi từ chúng ta."

Vâng, đấy là báo cáo về khối ngành nhân văn của Mỹ. Còn VN thì sao nhỉ? 

Những pho tượng chùa Tây phương không biết cách trả lời ....
Người đăng: Unknown

Thứ Ba, 27 tháng 8, 2013

Nóng hổi đây các bạn, vì đây là một nguồn tài nguyên mới toanh, chỉ mới được mở trong tháng 8 này thôi.

 Địa chỉ truy cập đây: https://saylor.longsight.com. Các bạn tha hồ tìm hiểu và sử dụng nhé. Còn ai làm biếng khám phá, muốn biết nguồn tài nguyên này có chứa những gì thì đọc bài giới thiệu dưới đây, bằng tiếng Anh. Tôi bận quá nên chưa dịch, bạn nào có rảnh dịch giúp thì hay quá.

Bài giới thiệu đây:
--------
http://campustechnology.com/articles/2013/08/21/free-resources-saylor-foundation-opens-thousands-of-learning-tools-to-colleges-and-universities.aspx?=CTNU

Free Resources: Saylor Foundation Opens Thousands of Learning Tools to Colleges and Universities

The Saylor Foundation has opened its Media Library to the public, providing thousands of open educational resources, videos, articles, and full-length textbooks.

The Saylor Foundation is dedicated to providing free and open education, with complete courses offered t the K-12 and post-secondary levels. It provides a total of about 300 academic courses, along with workplace skills courses.

Its online Media Library, built on the open source DSpace repository platform, provides a growing list of about 6,000 total resources, including 3,000 open educational resources, 1,300 videos, 124 full-length textbooks, and 2,500 articles. Resources cover the arts, sciences, humanities, social sciences, engineering, business, and test prep. Materials include primary texts (such as Beowulf and Hamlet), references (such as the Catholic Encyclopedia), textbooks (such as The Electronic Introduction to Old English), maps, presentations, audio recordings, assessments, assignments, data sets, and others.

Said Thomas Bryan, Saylor Foundation's content management coordinator: "Our Media Library today accomplishes much more than what we had first expected it to do. You might be looking for at least one resource to use while writing a paper, creating a lesson plan, or for better understanding a topic from a class, and 10 or 20 related items will appear. With everything categorized by license type, the user knows exactly what they can do with the resource and how they can adapt it to fit their needs without the hassle of figuring it out on their own."

Saylor's Media Library is open now. It can be accessed at library.saylor.org.
Người đăng: Unknown

Thứ Bảy, 17 tháng 8, 2013

Lang thang trên mạng tìm tài liệu cho một đề án về đánh giá giáo dục, tôi tìm thấy tài liệu này (free download) mà tôi tin là tất cả những người làm nghiên cứu giáo dục tại Việt nam đều cần đọc và nắm vững.

Đưa lên đây để lưu cho mình và chia sẻ thông tin đến mọi người. Tài liệu này tất nhiên là bằng tiếng Anh, như cái tựa của entry này đã cho thấy. Và như thế có thể sẽ gây ít nhiều khó khăn cho những bạn không giỏi tiếng Anh; tuy nhiên các bạn đừng lo, ngày nay đã có những công cụ giúp bạn dịch tự động như Google Translate, nên các bạn nào không rành tiếng Anh thì cũng có thể tự cho máy dịch và mò mẫm hiểu được ít nhiều.

Các bạn vào đây mà lấy nhé: http://www.nfer.ac.uk/nfer/publications/RCT01/RCT01.pdf.

Tạm thế đã, khi có thời gian hơn thì tôi sẽ quay lại để viết lời giới thiệu thêm cho tài liệu này.
Người đăng: Unknown

Thứ Năm, 15 tháng 8, 2013

Bài đăng dưới đây tôi là bản gốc của bài vừa đăng trên báo Nhân Dân cuối tuần (tôi chưa nhìn thấy bản in nhưng được báo là đăng trên trang nhất cơ đấy!) với tựa bài là "Siết chặt đào tạo tại chức" (ở đây: http://www.nhandan.com.vn/cuoituan/chuyen-de/item/21000602-.html). Bài đăng trên Nhân Dân đã được biên tập cắt đi ít nhiều để vừa đủ số từ trên khoảnh đất đã dành sẵn, và cơ bản không thay đổi ý của tôi. Tuy nhiên bản gốc cũng có những nuances thú vị, không quan trọng về thông tin khách quan nên đã bị cắt đi, nhưng nếu để lại cũng bổ sung thêm được cho quan điểm và phong cách cá nhân của tôi, nên tôi đăng lại ở đây để lưu và chia sẻ với mọi người.

Nói thêm một chút trước khi đăng bài: Việc được báo ND mời viết bài đã làm tôi hết sức ngạc nhiên. Bạn phóng viên của báo Nhân Dân khi liên hệ với tôi cho biết đã có đọc những bài tôi viết ở trên các báo và tạp chí, và thậm chí cũng đã đọc trên blog của tôi nữa! Một bất ngờ rất thú vị, vì mọi người đều biết lâu nay tôi vẫn cố gắng giữ một quan điểm độc lập, khách quan, không chịu "làm khoa học minh họa chính sách", không bị ảnh hưởng của các "chủ trương lớn" của ngành, dù tôi cũng đang ở trong ngành giáo dục (và đã ở đó suốt cả cuộc đời làm việc của mình). Nói theo ngôn ngữ "thời thượng" mà hiện nay người ta hay dùng, thì tôi là một tiếng nói "phản biện", mà còn phản biện "bền bỉ" nữa chứ như ai đó đã nói, thế mà báo Nhân Dân vẫn cho đăng bài, thì quả là một điều bất ngờ thật. 

Phải chăng đây là dấu hiệu đáng mừng, rằng Đảng CSVN đang có cởi mở hơn, lắng nghe dư luận và nghe các tiếng nói phản biện độc lập hơn? Chỉ mong được như thế, vì, tại sao không nhỉ, bất cứ ai và bất cứ tổ chức nào, kể cả Đảng Cộng sản VN, cũng đều phải có khả năng thay đổi theo chiều hướng thích nghi với môi trường bên ngoài chứ (nếu không muốn bị đào thải)! Cái đó nằm trong phép biện chứng của Karl Marx mà, đúng không nhỉ?
---------------------

Giải pháp nào cho hệ đào tạo tại chức?
Vũ Thị Phương Anh

Mục Xã hội trên tờ Tiền phong Online mới đây có một mẩu tin đáng chú ý: “Tuyển dụng công chức: Không được phân biệt tại chức, chính quy”. Theo đó, tại Hội nghị trực tuyến về Cải cách hành chính, Cải cách chế độ công vụ, công chứcngày 26/7/213, Bộ Nội vụ đã cho biết một số địa phương vẫn còn phân biệt văn bằng, chứng chỉ, loại hình đào tạo trong tuyển dụng, mặc dù đã được nhắc nhở bằng văn bản và yêu cầu thực hiện đúng quy định, nhưng có nhiều Bộ, ngành, địa phương vẫn không tiếp thu, không thực hiện đúng các quy định của pháp luật, gây nên nhiều bức xúc trong dư luận xã hội.[1]

Tẩy chay bằng tại chức: Càng nhắc nhở càng lan rộng?
Sự kỳ thị đối với tấm bằng tại chức là vấn đề tồn tại đã lâu mà cho đến nay dường như vẫn chưa có cách gì để giải quyết hữu hiệu. Còn nhớ vào năm 2010, dư luận đã một phen xôn xao khi báo chí đưa tin Sở Nội vụ của thành phố Đà Nẵng là từ chối tuyển dụng các viên chức có bằng tại chức. Đáng nói là mặc dù sai luật, nhưng có rất nhiều người đồng tình với cách làm của Đà Nẵng, thậm chí còn khen thành phố này dũng cảm vì đã dám làm trái luật để loại ra những tấm bằng kém chất lượng.  

Rất nhanh sau đó, Bộ Giáo dục đã có chủ trương xiết chặt việc quản lý đào tạo tại chức,  bằng cách giao chỉ tiêu tuyển sinh dựa vào năng lực thực hiện của trường (trước đó cách làm này chỉ áp dụng cho hệ chính quy)[2]. Tuy nhiên, tình trạng tẩy chay bằng tại chức không hề giảm đi mà  tiếp tục tăng lên. Bắt đầu với Đà Nẵng vào năm 2010, danh sách các tỉnh được bổ sung thêm Nam Định năm 2011, Quảng Nam năm 2012 và bây giờ là hàng loạt các địa phương khác như Quảng Bình, Hà Nam, Hải Dương, và cả thủ đô Hà Nội[3]nữa. Nhưng dù xảy ra ở địa phương nào thì lý do để các tỉnh nói không với bằng tại chức cũng chỉ có một thôi, đó là: chất lượng kém!

Hệ đào tạo tại chức: Không còn khả năng cải thiện?
Đào tạo ra nhưng không có chất lượng để rồi không dùng được, thật là một sự lãng phí. Nhưng sự tồn tại của hệ tại chức rõ ràng là cần thiết để tạo điều kiện cho những người ngoài độ tuổi đi học truyền thống nâng cao trình độ và cải thiện cơ hội nghề nghiệp. Vậy phải có cách nào để vừa duy trì hệ đào tạo tại chức (hoặc một hệ đào tạo nào khác bên cạnh hệ đào tạo chính quy) theo chủ trương học tập suốt đời, đồng thời chấm dứt việc tẩy chay người có bằng tại chức, giải quyết dứt điểm tình trạng lãng phí thời gian, công sức của người học vì có bằng mà không sử dụng được như hiện nay?

Đã có nhiều ý kiến hay quanh vấn đề này nhằm góp tay tìm ra câu trả lời cho câu hỏi trên. Gần đây nhất, ông Trịnh Ngọc Thạch, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh-thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội, trong một phát biểu trả lời phỏng vấn của báo Lao Động[4], đã nêu quan điểm khá hợp lý của ông về các giải pháp cần thực hiện để nâng cao chất lượng của hệ đào tạo tại chức như sau:

(1) Kiểm soát tốt khâu đầu vào, hạn chế tuyển sinh ở một quy mô vừa phải, căn cứ trên khả năng của cơ sở đào tạo.
(2) Nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy cần phù hợp với đối tượng sinh viên, không bắt buộc phải giống hệt với sinh viên chính quy.
(3) Chú trọng đáp ứng nhu cầu sử dụng của người học và của thị trường lao động.

Ba giải pháp nêu trên là khá hợp lý và toàn diện, vì chúng có liên quan đến chất lượng của cả 3 khâu trong quá trình đào tạo là chất lượng đầu vào, chất lượng của quá trình đào tạo, và chất lượng đầu ra. Điều quan trọng là cần đánh giá xem các giải pháp vừa nêu có thể khả thi trong điều kiện của chúng ta hay chăng.

Trước hết, có thể thấy việc kiểm soát quy mô đầu vào là hoàn toàn có thể thực hiện được, và đang được Bộ GD-ĐT thực hiện suốt mấy năm qua. Tuy nhiên, theo quan điểm hiện đại về giáo dục thì đầu vào không phải là yếu tố tác động có tính quyết định đến chất lượng. Đúng ra, với đối tượng sinh viên trưởng thành (mature students – khái niệm gần tương đương với sinh viên tại chức của Việt Nam, để chỉ những sinh viên đã quá độ tuổi đi học đại học, thường tính từ 24 tuổi trở lên) thì không nên quá khắt khe như với sinh viên học đúng tuổi.

Ở các nước tiên tiến trên thế giới, ví dụ như ở Mỹ và ở Úc, yêu cầu đầu vào đối với các sinh viên trưởng thành rất mềm dẻo linh hoạt, thậm chí chấp nhận cả những người chưa hoàn tất bậc trung học phổ thông, nếu xét thấy quá trình làm việc và các kỹ năng đã tích lũy có thể đảm bảo việc học thành công của sinh viên. Và một khi đã được nhận vào học thì hoàn toàn không hề có sự phân biệt nào giữa các sinh viên: dù là trưởng thành hay đúng tuổi, tất cả mọi sinh viên ra trường đều được cấp cùng một loại bằng hoàn toàn giống như nhau.

Trong khi đó, khả năng cải thiện nội dung và phương pháp giảng dạy, đáp ứng nhu cầu sử dụng của người học và của thị trường lao động của các chương trình đào tạo hệ tại chức hiện nay là rất thấp, có thể nói hầu như sẽ không có thay đổi gì trong điều kiện hiện nay, nếu không có một điểm tựa nào để đột phá. Chương trình thiếu cập nhật, quá thiên về lý thuyết, không gắn với thị trường lao động, phương pháp giảng dạy lạc hậu,  đó chính là những điểm yếu trầm kha của giáo dục đại học Việt Nam, không chỉ riêng với hệ tại chức mà còn ngay cả với hệ chính quy nữa. Đặc biệt, nhìn từ góc độ nhà trường và giảng viên thì rõ ràng hiện nay đa số các chương trình đào tạo tại chức chỉ được coi là “chương trình hạng hai”, là “nồi cơm” của các thầy và của nhà trường, nơi trò không muốn học và thầy không muốn dạy, chỉ làm việc quấy quá cho xong. Điều này cũng đã được một nhà giáo kiêm blogger Chu Mộng Long chia sẻ trong một bài viết gần đây.[5]Vì vậy, nếu tiếp tục duy trì hệ tại chức giống như hiện nay thì viễn cảnh trước mắt sẽ là sự tiếp tục gia tăng tẩy chay đối với bằng tại chức, không chỉ từ phía các nhà tuyển dụng mà còn từ các sinh viên, vì đi học để làm gì khi tấm bằng tốt nghiệp bị tẩy chay và không thể sử dụng?

Đi tìm một khâu đột phá
Tình trạng hiện nay của hệ tại chức đang đặt nhà nước trước một số lựa chọn. Lựa chọn đầu tiên là Nhà nước không can thiệp gì cả, mà để cho cơ chế thị trường tự điều chỉnh. Điều này có nghĩa là nếu các cơ sở đào tạo nào không tự mình tìm ra cách cải thiện chất lượng của chương trình và khả năng đáp ứng thị trường lao động thì đương nhiên sẽ không còn thu hút được người học, và chương trình đào tạo tại chức của cơ sở ấy sẽ phải tự đóng cửa. Thực ra, đây là điều đang diễn ra tại Việt Nam hiện nay, dù nó không phải là cách làm tốt nhất. Nếu chúng ta chấp nhận lựa chọn này thì tình trạng lộn xộn hiện nay sẽ tiếp tục được duy trì, gây lãng phí rất lớn về thời gian, tiền bạc và công sức của những sinh viên đã học xong nhưng không sử dụng được tấm bằng của mình, đồng thời sẽ gây ra nhiều bức xúc trong xã hội.

Lựa chọn thứ hai là Nhà nước giúp các trường duy trì hệ đào tạo tại chức bằng cách xử lý nghiêm những trường hợp tẩy chay bằng tại chức. Cách làm này không sai về mặt pháp lý, nhưng không có tính nhân văn và sai lầm về phương pháp vì không thể nào ép người sử dụng lao động chấp nhận những nhân viên thiếu kỹ năng do không được đào tạo đến nơi đến chốn. Vả lại, nếu bắt ép thì có lẽ Nhà nước cũng chỉ có thể buộc các cơ quan và đơn vị công lập phải nhận sinh viên tại chức thôi, chứ không thể bắt ép các doanh nghiệp tư nhân, tạo ra một nghịch lý là bằng tại chức học ra để vào làm cho cơ quan nhà nước!

Lựa chọn cuối cùng, và cũng là lựa chọn tốt đẹp nhất nếu có thể thực hiện được, đó là tìm ra được một khâu đột phá trong cách quản lý hệ đào tạo này, từ đó cải thiện nó để nó có thể  tồn tại một cách xứng đáng trong hệ thống giáo dục của đất nước. Nhưng khâu đột phá đó có thể là gì?

Không phải là ngẫu nhiên mà các nước có nền giáo dục tiên tiến lại vô cùng chú trọng khâu kiểm định chất lượng, trong khi các nước yếu hơn thì thường ít chú trọng đến kiểm định hơn.  Có thể nói, kiểm định chất lượng là bí quyết để thực hiện thành công các giải pháp đã nêu ở phần trên. Cần biết rằng kiểm định chất lượng có hai cấp độ với các mục tiêu khác nhau là kiểm định cấp trường là điều mà hệ thống giáo dục Việt Nam đã quen, và kiểm định nghề nghiệp (còn gọi là kiểm định cấp chương trình đào tạo) có liên quan trực tiếp đến chất lượng đầu ra của sinh viên tốt nghiệp thì ở Việt Nam hoàn toàn chưa hề tồn tại.

Chính kiểm định cấp chương trình mới là khâu đột phá nhằm giải quyết vấn đề nan giải liên quan đến hệ tại chức tại Việt Nam. Các tổ chức kiểm định nghề nghiệp có gắn kết rất chặt chẽ với các hiệp hội nghề nghiệp nên họ hiểu rất rõ nhu cầu thị trường lao động. Khi một chương trình được kiểm định thì tất cả tất cả những thông tin về nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá người học, cơ sở vật chất phục vụ học tập, giảng dạy và nghiên cứu, sự hài lòng của sinh viên, khả năng kiếm việc làm và cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp của cựu sinh viên vv đều được xem xét kỹ lưỡng, được đánh giá và đưa ra những yêu cầu cải thiện nếu có. Có thể nói, kiểm định chương trình chính là cơ chế kiểm soát bên ngoài để giúp các chương trình đào tạo luôn đi đúng hướng và đạt được mục tiêu mà mình đã đề ra.

Như vậy, để hệ tại chức có thể được cải thiện thì Việt Nam cần nhanh chóng thiết lập hệ thống kiểm định nghề nghiệp, đồng thời đưa yêu cầu về kiểm định thành một điều kiện bắt buộc về năng lực để có thể đào tạo tại chức. Có như vậy thì mới có thể “cứu” được hệ đào tạo tại chức để đưa nó thoát ra khỏi viễn cảnh “trông chết cười ngạo nghễ” như hiện nay!



Người đăng: Unknown

Thứ Ba, 13 tháng 8, 2013

Bài viết được đăng dưới đây là của anh Nguyễn Đại Hoàng vừa gửi cho tôi sáng nay. NĐH đối với tôi là một người bạn có chung một số quan tâm, trước hết là quan tâm đến văn học và dịch văn học, sau nữa là về việc giảng dạy tiếng Anh. Trong bài viết này, anh NĐH có những nhận xét và trao đổi về lý thuyết hậu hiện đại và ảnh hưởng (nếu có) của nó lên thực tiễn giảng dạy tiếng Anh tại VN.

Những ý kiến của anh NĐH có thể không hoàn toàn giống với tôi - một điều hoàn toàn dễ hiểu vì tôi nhìn dưới cái nhìn của một professional in the field, trong khi anh NĐH nhìn dưới góc độ của một người ngoài ngành nhận định về tình hình giảng dạy ngoại ngữ ở VN - nhưng cũng có nhiều điểm thú vị (cả hóm hỉnh nữa), và đặc biệt là nó cung cấp thêm những cái nhìn đa dạng về vấn đề mà chúng ta đang quan tâm. Vì vậy, tôi xin đăng nguyên văn bài trao đổi của anh NĐH dưới đây (có đổi tựa một chút) và hy vọng nó sẽ khơi dậy thêm những trao đổi khác.

Enjoy các bạn nhé!
---------------
PHIẾM BÀN VỀ LẠC …HẬU HIỆN ĐẠI & TIẾNG ANH

1. Hậu hiện đại & lạc hậu hiện đại ? 

Dạo gần đây tôi bận nhiều nên không có dịp đọc hết những bài viết về vụ NT, về hậu hiện đại trong văn học, hậu hiện đại trong giảng dạy tiếng Anh…tôi chỉ đọc những bài viết của cô PA thôi. Tôi cho rằng những người đứng về phía NT là những trí thức hậu hiện đại. Đơn giản là chỉ những trí thức hậu hiện đại mới hiểu trí thức hậu hiện đại. Nói cách khác thì những người không phải trí thức hậu hiện đại không thể nào hiểu được trí thức hậu hiện đại. 

Người ta đã nói nhiều về những người đã tấn công dữ dội vào luận văn của NT và vào chính bản thân NT. Người ta đã khoác cho họ những danh xưng như văn nô, phê bình kiểm dịch,phê bình chỉ điểm, bồi bút, … Kể có oan cho họ không nhỉ bởi họ hoàn toàn không phải là trí thức hậu hiện đại ? Nói cho đúng hơn, những người đó đâu đã vươn đến tầm hiện đại mà nói đến tầm hậu hiện đại. Họ là những người lạc …hậu hiện đại. Lẽ tất nhiên lạc hậu hiện đại nên không hiểu hậu hiện đại là chuyện bình thường. Chứ nếu hiểu mới là lạ ! Nói như cố GS. Cao Xuân Hạo thì họ đã :  “ không hề thấy mình lạc hậu chính vì lạc hậu quá xa ”.

Lạc hậu quá xa phải chăng là một tên khác của lạc hậu hiện đại ? Tôi tự hỏi một đất nước mà có quá nhiều trí thức lạc hậu thì sẽ ra sao ? Sẽ hậu hiện đại, hiện đại hay lạc hậu hiện đại ? Người lạc hậu khiến đất nước lạc hậu? Hay đất nước lạc hậu sản sinh ra những người lạc hậu? 

Còn nếu nhìn từ góc độ văn học, tôi không rõ vì sao cái gọi là bên lề ở Việt Nam lại bị coi không phải là văn học, nếu văn học hậu hiện đại quả thật đã có ở đất nước này. Bởi nếu như vậy thì cái gọi là trung tâm sẽ là gì đây? Tôi tự hỏi rằng ở những nước khác thì cái gọi là bên lề và cái gọi là trung tâm sẽ ra sao nhỉ ? Nó tách biệt và kình chống nhau, hay nó hòa nhập, xâm lấn vào nhau ? Và cái nào mạnh hơn cái nào ? Nó có giống tình hình ở Việt Nam không ?

Quan điểm của tôi về hậu hiện đại – về mọi lĩnh vực không chỉ trong văn học – đơn giản chỉ là cái vượt qua cái hiện tại hiện đại. Nhưng tôi không rõ hậu hiện đại liệu có được mặc định là cái tốt hơn cái hiện đại hay không. Và phải chăng sau cái hậu hiện đại sẽ là cái hậu hậu hiện đại, rồi hậu hậu hậu hiện đại… ? 

Theo quan điểm của tôi, nếu văn học đi theo quá trình nói trên, thì đó chính là sự tiến hóa của văn học. Ở Phương Tây hậu hiện đại đã ra đời từ mấy chục năm trước, nghĩa là đã rất cũ so với hiện tại, thì liệu đó có còn là hậu hiện đại không ? Tôi cũng tự hỏi : Phải chăng văn học hậu hiện đại là phản ánh thực tại một cách trần trụi, với những lời lẽ đời thường, những câu văn, cấu trúc thơ, truyện một cách lạ lùng, phi logic ? Ý tôi muốn nói là : liệu nó có hay hơn những nền văn học đã qua, hay là nó lạ hơn, thực hơn ? Ở Việt Nam phải chăng đã và đang hình thành cuộc phân tranh trong văn học ( và có thể là ở các lĩnh vực khác nữa ), gữa một bên là lạc hậu hiện đại và hậu hiện đại ? Bên nào mạnh hơn ? Sẽ có bên thắng cuộc ? 

Có một số phàn nàn về văn học hậu hiện đại, nhất là những bản dịch văn học nước ngoài, quá khó hiểu. Phải chăng điều đó cũng gần giống với trường hợp những bản dịch kinh Phật :  “ kinh Phật chỉ cần tụng niệm chứ không cần hiểu ”? Phải chăng văn học hậu hiện đại hình như phải khó hiểu thì mới “ ra ” hậu hiện đại.  Còn các lĩnh vực khác ngoài văn học thì sao ? Thí dụ trong lĩnh vực giáo dục thì giảng dạy ngoại ngữ theo tinh thần hậu hiện đại sẽ như thế nào ?

2. Giảng dạy ngoại ngữ bằng hậu phương pháp 

Trên trang ncgd, cô PA đã có một bài viết ngắn nhưng tuyệt hay có nhan đề  : Giảng dạy ngoại ngữ trong kỷ nguyên "hậu phương pháp" (1): Tinh thần hậu hiện đại trong giáo dục. Đoạn mở đầu như sau : 

Mặc dù đối với VN, "hậu hiện đại" vẫn còn là một cái gì hết sức xa lạ, mơ hồ và nhiều tranh cãi, nhưng ở phương tây thì tinh thần hậu hiện đại đã thấm vào tất cả mọi ngành có liên quan đến tư tưởng, văn hóa và nghệ thuật, trong đó tất nhiên là có giáo dục. Sự "thấm vào" đó trong lý luận giáo dục đa phần rất tự nhiên, không hề to tát với những tuyên ngôn hùng hồn, rầm rộ như trong lĩnh vực triết học và văn học, nhưng những đặc điểm chính của tinh thần hậu hiện đại là rất rõ ràng. Tinh thần ấy, theo tôi, có thể tóm gọn lại trong một câu: Không có phương pháp thần kỳ nào cả!

Và : 

Trong thời hậu hiện đại ngày nay, không ai còn có thể tin rằng có tồn tại trên đời này một phương pháp học ngoại ngữ nào đó đúng cho tất cả mọi người! 

Vâng, tôi hoàn toàn đồng ý, không có một phương pháp học ngoại ngữ nào đúng cho tất cả mọi người. Điều này tương tự như tác dụng của thuốc chữa bệnh trên người. Những cơ địa khác nhau đáp ứng với thuốc khác nhau. Nhưng nói chung thì chữa bệnh vẫn cần đến thuốc, nên việc giảng dạy ngoại ngữ vẫn cần đến phương pháp. 

Nhưng tôi muốn nói đến một vấn đề mà tôi nghĩ là trước và cao hơn phương pháp. Đó là việc xét đến đặc tính riêng của từng dân tộc. Cụ thể là nếu trong y khoa định bệnh chính xác là vấn đề  tối quan trọng để cho đúng thuốc, nghĩa là vấn đề định bệnh phải đi trước phương pháp điều trị , thì trong việc giảng dạy ngoại ngữ cũng tương tự như thế : việc định ra được những khó khăn cơ bản của người Việt trong việc học ngoại ngữ ( ở đây là tiếng Anh ) phải đi trước phương pháp giảng dạy . Và mỗi dân tộc đều có những khó khăn khác nhau trong việc tiếp cận ngoại ngữ, do đó mỗi dân tộc đều cần đến những phương pháp khác nhau trong việc giảng dạy ngoại ngữ. 

Vậy liệu những giáo trình do người nước ngoài biên soạn có tính đến đặc tính của từng dân tộc không ? Và khi người Việt chúng ta đến với tiếng Anh thì có một câu hỏi đặt ra là : Để giỏi tiếng Anh, họ có bắt buộc giỏi tiếng Việt không? Hay là : Nếu họ không giỏi tiếng Việt thì liệu họ có thể thụ đắc tiếng Anh không ? Và tình chung ở Việt Nam như nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra là rất tệ : sinh viên, học sinh, kể cả giảng viên nữa đều nói và sử dụng tiếng Việt ngày càng kém. 

Một nhà nghiên cứu đã cho rằng : người ta đang dạy tiếng Việt cho học sinh Việt Nam như dạy cho người nước ngoài học tiếng Việt. Có hài hước chăng khi cùng với tiếng Anh, thì tiếng Việt cũng đang chính là một ngoại ngữ của người Việt ? 

Nếu đúng như vậy thì trong giai đoạn hiện tại, giảng dạy ngoại ngữ ở Việt Nam là một hàm hai biến. Nhưng là hai biến quá lớn.  “ Nội ngữ ” hay “ ngoại ngữ ” đều là vấn đề nan giải ở Việt Nam. 

Tinh thần hậu hiện đại sẽ giúp được gì cho vấn nạn tiếng Việt – tiếng Anh ở Việt Nam ? Chắc chắn là sẽ giúp được rất nhiều. Nhưng với điều kiện là tinh thần hậu hiện đại ở Việt Nam phải rất lớn. Nghĩa là Việt Nam cần rất nhiều, rất nhiều trí thức hậu hiện đại. Thế nhưng đây lại là một vấn đề rất lớn khác của Việt Nam.

NGUYỄN ĐẠI HOÀNG 
8/2013

Người đăng: Unknown

Thứ Hai, 12 tháng 8, 2013

Hôm nay tôi vào mạng để tìm thông tin, bỗng tìm thấy tên mình trên báo Nhân Dân từ rất lâu rồi (2006). Đọc vào, thấy bài viết đã 7 năm mà nội dung vẫn còn ... mới, nên đem về đăng lại ở đây nhằm lưu cho mình và chia sẻ với những bạn đọc của blog này. Đó là một bài viết trên báo Thanh Niên được Nhân Dân đăng lại, về một hội thảo do TT mà tôi làm Giám đốc đứng ra tổ chức (kỷ yếu hội thảo bản mềm các bạn có thể hỏi tôi để nhận và đọc nếu quan tâm). 

Lúc ấy, các bạn ạ, tôi còn đang kiêm nhiệm Giám đốc TT Đánh giá giáo dục bên Viện NCGD của ĐHSP, dù cũng đang đồng thời làm PGĐ Trung tâm Khảo thí của ĐHQG-HCM. Thời cống hiến hết mình cho hệ thống công của tôi đấy các bạn ạ. Bây giờ thì mệt mỏi rồi ...
------------
http://www.nhandan.com.vn/giaoduc/tin-tuc/item/8620702-.html

Kiểm tra đánh giá học sinh: Bộ GD-ĐT “quên” cải cách !
Thứ ba, 27/06/2006 - 03:22 PM (GMT+7)
[+] Cỡ chữ: Mặc định    
Thí sinh ôn bài trước giờ vào phòng thi.
Thí sinh ôn bài trước giờ vào phòng thi.
Sức ép thi cử và bệnh thành tích
Trước những tiêu cực và gian lận trong kỳ thi tốt nghiệp THPT năm nay, TS Vũ Thị Phương Anh (Giám đốc Trung tâm đánh giá giáo dục, Viện Nghiên cứu giáo dục) cho rằng có nguyên nhân quan trọng từ những sai lầm về phương pháp kiểm tra đánh giá.
Hai điểm nóng của giáo dục Việt Nam trong nhiều năm nay là sức ép thi cử và bệnh thành tích tác động tiêu cực đến toàn bộ hệ thống giáo dục, đến nay vẫn chưa có dấu hiệu giảm sút.
TS Phương Anh nêu câu hỏi: "Các hình thức kiểm tra đánh giá hiện nay để phục vụ học tập hay phục vụ bệnh thành tích?", và ngay lập tức được sự "cung cấp" từ thực tế của các địa phương.
Một giáo viên ở tỉnh Tiền Giang cho biết có năm TP Mỹ Tho xếp hạng 9 (hạng chót trong các huyện thị, thành trong tỉnh) của kỳ thi tốt nghiệp THCS; sau đó Thành ủy, UBND thành phố triệu tập họp đột xuất lãnh đạo phòng giáo dục, các hiệu trưởng, giáo viên để bàn "biện pháp" và chỉ cần 12 tháng sau đơn vị này vươn lên đứng đầu tỉnh.
Cũng ở tỉnh này, ở một kỳ thi tốt nghiệp THPT, có một trường bán công chỉ đạt tỷ lệ đậu dưới 10%, nhưng cũng bằng việc "họp đột xuất" từ cấp trên thì kỳ thi năm sau liền đạt tỷ lệ tốt nghiệp hơn 90%!
Là người trong cuộc, giáo viên này nêu quan điểm: "Có Thánh Gióng mới "vươn vai" được cỡ như thế. Rõ ràng họ muốn tỷ lệ tốt nghiệp bao nhiêu cũng được!".
 
Các đại biểu trao đổi tại hội thảo.
Một đại biểu tại TP Hồ Chí Minh thì băn khoăn: "Đề thi học kỳ mà Sở GD-ĐT ra chung cho học sinh toàn thành phố phải phù hợp với trình độ chung của tất cả học sinh, nhưng không thể lấy lý do có những "vùng sâu vùng xa" mà chỉ đạo ra đề quá dễ. Để khuyến khích học sinh học tập, vẫn cần có một số câu hỏi phân hóa trình độ".
Do vậy, việc kiểm tra đánh giá phải được xác định là để phục vụ cho việc học tập của học sinh tốt hơn; chứ không phải để phục vụ cho những mục đích khác, nhất là phục vụ cho "bệnh thành tích" của các quan chức của tỉnh, ngành.
Điều tra về phương pháp giảng dạy và hình thức ra bài tập về nhà của giáo viên ở một số trường phổ thông, bà Trần Thị Huyền (Trường ĐH An Giang) nêu kết quả: 32,4% học sinh học thuộc lòng bài giáo viên giảng với mục đích "trả nợ" bài cũ cho thầy cô, còn hiểu hay không thì không thành vấn đề (!); 67,8% giáo viên dạy theo phương pháp thuyết trình, 13,7% dùng phương pháp "nêu vấn đề"; về hình thức ra bài tập về nhà của giáo viên thì có 51,2% phát lệnh "học thuộc lòng bài giáo viên dạy", 28% "làm tất cả bài tập trong sách giáo khoa". Với phương pháp dạy và học như vậy, việc kiểm tra đánh giá hiện nay khó giúp học sinh tiến bộ hơn, tự thỏa mãn với "thành tích" không thực mà mình đạt được.
"Học gì, thi nấy" hay "thi gì, học nấy!"?
Nhiều lần, lãnh đạo Bộ GD-ĐT khẳng định học gì, thi nấy, giáo viên dựa trên sách giáo khoa để hướng dẫn học sinh học tập theo các yêu cầu của nội dung chương trình.
Nhưng, với cách ra đề hiện nay thì nhiều giáo viên tùy cơ ứng biến "thi gì, học nấy" thì đúng hơn.
Có người kể, thi tốt nghiệp THPT môn Văn chẳng hạn, năm nào tỉnh tôi cũng "trúng tủ" vì đề ra cứ lui tới trong mấy bài, mà đưa ra bài nào thì cũng chỉ phân tích một đoạn nào đó được biết sẵn. Vậy thì trách gì học sinh (và cả giáo viên) lại không chạy theo văn mẫu mà học, mà dạy!
Từ năm học 2002-2003, Bộ GD-ĐT cho triển khai đại trà việc giảng dạy Tiếng Anh ở bậc THCS theo sách mới (đến nay đã xong lớp 9); tập trung theo hướng chủ đề, chủ yếu dạy cho học sinh khả năng giao tiếp. Thế nhưng, TS Đỗ Hạnh Nga (Trường ĐH Sư phạm TP Hồ Chí Minh) lại nhận định: "Nội dung các loại kiểm tra (miệng, 15 phút, tiết, học kỳ) lại chỉ chú ý đến ngữ pháp, từ vựng, kỹ năng viết mà không hề chú ý đến kỹ năng giao tiếp".
Có vẻ như Bộ GD-ĐT chỉ chú trọng cải cách giáo dục mà "quên" cải cách việc kiểm tra đánh giá, quá chú trọng đến điểm số mà quên đánh giá học sinh qua những tiêu chí khác (hành vi, thái độ, kỹ năng...).
PGS-TS Nguyễn Văn Lộc cho rằng nếu sử dụng kiểm tra đánh giá không đúng sẽ tạo ra áp lực thủ tiêu tính tích cực học tập của học sinh. Còn PGS-TS Nguyễn Kim Hồng (Phó hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm TP Hồ Chí Minh) thì kể chuyện Hiệp hội đánh giá ở Australia được lập ra hoàn toàn độc lập với Bộ Giáo dục, ý kiến của hiệp hội này được xã hội chấp nhận. Vì vậy PGS-TS Nguyễn Kim Hồng đề nghị: "Cục khảo thí và kiểm định chất lượng của ta cũng nên nằm ngoài Bộ GD-ĐT vì nếu vẫn là một bộ phận của Bộ GD-ĐT và làm như hiện nay thì sẽ liên tục bị xã hội phản ứng".
Để sớm nâng cao chất lượng giáo dục tại Việt Nam, nhiều ý kiến tại hội thảo đồng tình cần có một cuộc cách mạng trong kiểm tra đánh giá, trước mắt cần có một số biện pháp cụ thể như: trị tận gốc "bệnh thành tích", chấm dứt kiểm tra đánh giá chất lượng dạy học chỉ dựa vào các tiêu chí thi đua lâu nay vẫn thường dùng (điểm số học sinh, xếp loại học lực, số học sinh lên lớp, tỷ lệ tốt nghiệp...); giảm bớt các kỳ thi quốc gia không cần thiết; đẩy mạnh phân quyền cho các trường phổ thông trong việc quyết định các vấn đề chuyên môn... Cùng với việc giảm bớt thi cử, các cấp quản lý giáo dục nên nâng cao vai trò định hướng, giám sát hoạt động của các trường, xử lý thật nghiêm minh các sai phạm và tiêu cực.
(Theo Theo Thanh niên)
Người đăng: Unknown
Nguyễn Hồng Minh. Được tạo bởi Blogger.
Hot girl Viet Nam Click Here
Hot girl Viet Nam Click Here