Thủ thuật tin học

Thủ thuật tin học

Máy tính là gì ?

Thủ thuật tin học
Thủ thuật tin học

Thủ thuật tin học

Hệ điều hành là gì ?

Thủ thuật tin học
Thủ thuật tin học

Thủ thuật tin học

Word office là gì ?

Thủ thuật tin học
Thủ thuật tin học

Thủ thuật tin học

Trình duyệt web

Thủ thuật tin học
Thủ thuật tin học

Thủ thuật tin học

Bác sĩ máy tính

Thủ thuật tin học

Thứ Tư, 14 tháng 11, 2012

Công bố khoa học trên tạp chí quốc tế của VN không bằng ai cả, thua tất thảy các nước Đông Nam Á, có lẽ chỉ hơn Campuchia thôi, đó là lập luận của nhiều người nhưng tiêu biểu là GS NVT, hoặc cặp đôi tác giả NVT & PTL trong một bài báo gần đây.

Lý do tại sao VN thua kém thì chắc có nhiều; GS Tuấn cũng đã viết nhiều rồi, và tựu trung tôi thấy các ý chính của GS ấy là: các nhà khoa học của VN kém! Chấm hết. Kém đủ thứ, nào là kém tiếng Anh, nào là kém về đạo đức khoa học (đạo văn chẳng hạn), kém về kinh nghiệm công bố quốc tế, năng lực khoa học, tất tần tật. Ngoài ra, không chỉ có nhà khoa học (thực ra, theo định nghĩa của GS Tuấn thì chưa thể gọi họ là "nhà khoa học" vì họ đâu có làm khoa học, ở đây làm khoa học được hiểu là có công bố quốc tế ấy ạ) của VN kém, mà nói chung là các nhà chính sách, các vị có quyền điều hành, và cả các vị lãnh đạo chuyên môn của các trường, khoa, viện, trung tâm vv của VN cũng kém! Thiếu tâm và thiếu tầm. Nói tóm gọn lại trong một chữ thì là: Xổ toẹt!

GS Tuấn mà đã nói thì chắc là không sai (?), ấy là nhiều người ở VN vẫn nghĩ thế. Tôi cũng thiên về cách nghĩ như thế,  vì ông đang giảng dạy và làm việc tại một Viện nghiên cứu của một nước phát triển, English-speaking (Anglo-Saxon), thì làm sao mà chẳng có điều kiện tốt hơn chúng ta. Nhưng hiểu về tình trạng của các nước ĐNÁ, đặc biệt là các trường đại học ở đấy, để có thể so sánh với VN cho chính xác thì chắc ông Tuấn không biết nhiều hơn tôi đâu ạ (vâng, xin ông Tuấn đừng so sánh VN với Úc hoặc Mỹ, Anh, Nhật, Hàn ạ, vì làm sao mà so sánh được cơ chứ khi thu nhập bình quân đầu người của họ là đến vài chục ngàn đô, còn mình thì chỉ mới đâu đó trên ngàn đô thôi!).

Vậy nên, xin có vài lời để bổ sung thêm cho lập luận của ông GS Tuấn. Chỉ một chi tiết nhỏ thôi ạ, đó là đồng lương của các vị giáo sư, tiến sĩ ở các trường của Thái Lan, trong tương quan so sánh với VN.

- Ở VN, xin lấy ví dụ ở một trường thuộc loại hàng đầu của TP HCM là ĐHQG-HCM, lương trung bình của một giảng viên có bằng tiến sĩ và giảng dạy trên chục năm trở lên chắc khoảng 500 USD, nhiều khi còn ít hơn. Cứ cho là họ dạy thêm, dạy nếm (!), chạy "sô" chỗ này chỗ khác để được thêm một khoảng tương đương thế, thì lúc ấy họ mới đạt được mức thu nhập 1000USD/tháng. Mà phải làm quần quật, như ta hay nói là làm "thợ dạy". Tất nhiên cũng có những thầy giỏi, được mời tham gia nhiều đề tài, công trình, thì có thu nhập tốt hơn, nhưng đây là thiểu số chứ không phải là đa số.

Riêng ở ĐHQT, nơi được coi là "bờ xôi ruộng mật" của ĐHQG-HCM nói riêng và của hệ thống ĐH VN nói chung (vì được thu học phí cao, trả lương cao, học bằng tiếng Anh) thì lương giảng viên có bằng TS, không phải đi dạy thêm mà chỉ dạy cho trường chắc cũng dao động trong khoảng 1000-1500 USD. Là mong ước của nhiều người, và chen chân vào dạy ở trường này không phải dễ!

Ở trường ấy, người ta còn khuyến khích công bố quốc tế bằng cây gậy và củ cà rốt, tức là bắt buộc phải làm, nhưng làm rồi thì được thưởng bằng tiền, một bài đăng báo thì được đâu 1000 hay 1500 USD gì đó, tôi nghe thế không rõ có chính xác không. Và chỉ thế thôi, thì số bài công bố ở ĐHQT đã cao hơn hẳn nhiều nơi khác rồi.

Tóm lại, nếu giảng viên toàn quốc đều có điều kiện làm việc như ở ĐHQT thì chắc chắn là công bố quốc tế của VN chẳng mấy chốc sẽ tăng lên. Thì, phải có thực (= lương tốt, tức là sống được bằng lương, không phải chạy vạy, bươn chải kiếm sống) thì mới vực được đạo (= làm nghiên cứu, tức là có công bố quốc tế, theo định nghĩa của GS Tuấn) mà, ông bà ta nói đố có sai vào đâu được.

- Thế ở Thái, thì lương của họ ra sao?
+ Giảng viên có bằng Tiến sĩ: đương nhiên hưởng mức lương 1 ngàn đô/tháng, tức 30 ngàn đồng baht của Thái. (tỷ giá: 1 đô bằng cỡ 30 baht). Bằng lương của ĐHQT, tức gấp đôi lần lương của giảng viên ở các trường khác của DHQG-HCM .
+ Giáo sư: lương 2 ngàn đô, thêm 6 trăm đô trợ cấp. Tiền baht là 60 ngàn + 18 ngàn trợ cấp. Gấp hai lần rưỡi lương của giảng viên thường ở ĐHQT, và gấp hơn 5 lần lương của giảng viên ở các trường khác của DHQG-HCM.

Thông tin ở đâu ra thế, bịa ra phải không? Dạ, em đâu dám thế (chính phủ yêu cầu kiểm tra, thì em chết mất), nó đây ạ. Trong báo cáo năm 2010 của ĐH UM của Mã Lai, trong chuyến đi thăm trao đổi và học hỏi đến các trường đại học nghiên cứu của Thái Lan. Ở đây: http://vcoffice.um.edu.my/wp-content/uploads/2010/03/REPORT/Thailand.pdf.

Vâng, chỉ thế thôi, thì đã thấy ngay là tại sao Thái Lan có công bố khoa học nhiều hơn VN nhiều lần rồi. Đấy là chưa kể số lượng giáo sư và tiến sĩ của họ chắc chắn là hơn mình. Tôi dám nói chắc điều này vì trong khi ở VN thì số giảng viên có bằng tiến sĩ chỉ chiếm 20-25% tổng số giảng viên, còn ở Thái hầu như ai cũng phải có bằng tiến sĩ rồi mới được đứng lớp, tức tiến sĩ là xấp xỉ 100%.

Chưa kể tỷ số sinh viên trên giảng viên của mình cao gấp mấy lần họ, cái này tôi cũng đã viết trên blog này vài lần rồi. Nhưng riêng GS Tuấn thì ông cứ phán đại rằng VN có khá nhiều GS, TS so với các nước khác, mà chẳng đưa ra số liệu so sánh với nước nào cả. Cứ xơi xơi phê phán, mạt sát các nhà khoa học VN - xin lỗi, phải nói lại cho chính xác kẻo ông Tuấn bắt bẻ, đó là các tiến sĩ trong nước nhưng không làm khoa học - đến vuốt mặt không kịp, chỉ dựa trên những số liệu mang tính chọn lọc (selective) để chứng minh luận điểm riêng của mình thôi!

Xin thưa ngay với ông Tuấn rằng, số lượng tiến sĩ và giáo sư của VN không nhiều đâu ạ, đặc biệt khi so với Thái Lan. Chẳng thế mà PTT NTN khi còn là Bộ trưởng GD đã đưa ra chỉ tiêu 10 ngàn tiến sĩ, một chỉ tiêu mà mọi người đã giãy nảy lên phê phán ấy. Nhưng thôi, những chi tiết ấy để hôm khác em hầu chuyện với GS Tuấn sau trong một bài viết khác, GS nhé.

Và cuối cùng, rất mong ai đó ở trên cao đọc những dòng này và suy nghĩ một chút trước khi ép buộc các nhà giáo của VN phải ... rặn ra các công trình và công bố quốc tế, rồi lại xếp hạng đại học, có đẳng cấp quốc tế nữa chứ. Nếu có muốn thế, thì ít nhất hãy tạo cho mọi người điều kiện làm việc tương đương với ĐHQT của ĐHQG-HCM đi đã.

Nói thêm, cơ sở vật chất của trường này cũng rất tốt, máy móc thiết bị hiện đại nhập mới toanh cho họ xài - chả biết hiệu quả có cao lắm không. Mà tiền thì do ngân sách nhà nước cấp, hoặc vốn vay có trả lãi của Ngân hàng thế giới, tức cuối cùng là từ tiền thuế của chúng ta đấy ạ, trong đó có các gv đại học dạy gần 30 năm và có bằng tiến sĩ đến 15 năm rồi và được nhà nước trả lương khoảng 500 USD, như tôi, trước khi nghỉ khỏi nhà nước.

Vâng, xin đừng bắt các giảng viên của VN làm thợ dạy để kiếm tiền sinh sống, chẳng ai muốn thế! Lại còn mạt sát họ nữa chứ, tội lắm. Họ mà tìm cách đi hết sang các nước phát triển (để tránh bị mạt sát, và còn có cơ hội mạt sát người khác chứ), thì chúng ta sẽ bị chảy máu chất xám trầm trọng đấy. Thì đã và đang chảy máu từ khu vực công sang khu vực tư nhân rồi đó.

Xin hãy nhớ câu mà cha ông ta vẫn nói từ xưa, đó là

CÓ THỰC MỚI VỰC ĐƯỢC ĐẠO

GS Tuấn nhỉ!
---
Đính chính:

Hồi nãy tôi tính nhẩm sai nên ghi lương của giảng viên Thái là gấp 10 lần con số thực. Thành thật xin lỗi các bạn, và cám ơn bạn LuatLe đã góp ý qua comment!
-------------------
Cập nhật sáng 15/2012

Có một bạn trẻ đang học ở nước ngoài có nick là Bach Le đã gửi những ý kiến trao đổi khá thú vị về bài viết của tôi (tựu trung là không đồng ý với tôi) trên facebook, và tôi cũng đã có những phản hồi. Xin chép về đây cho mọi người cùng đọc.

Về vấn đề tiền lương và trách nhiệm của giảng viên nước ngoài. Trước hết, để có được một vị trí cố định trong một trường đại học (tenure track), một ứng cử viên phải hội đủ các điều kiện hết sức gắt gao: bằng tiến sĩ, kinh nghiệm nghiên cứu trong và ngoài nước (vâng ạ, ví dụ như ở Hà Lan, dù là nước có nghiên cứu rất phát triển, giảng viên vẫn được yêu cầu phải có kinh nghiệm làm nghiên cứu ở nước ngoài), số lượng và chất lượng các bài báo khoa học.

Một trường hàng năm chỉ tuyển thêm vài vị trí cố định như vậy, còn phần lớn các nhà nghiên cứu khác làm việc trong trường được hưởng lương theo hợp đồng (2 năm hoặc 4 năm). Trách nhiệm của một người được hưởng lương cố định rất nặng nề. Ngoài việc giảng dạy sinh viên, hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ, làm nghiên cứu khoa học, viết bài báo khoa học, thì trách nhiệm quan trọng thiết yếu nhất của họ chính là: kiếm tiền về cho trường.

Điều này được thực hiện qua việc viết các đề xuất nghiên cứu (proposal) để xin kinh phí qua rất nhiều quỹ khác nhau trong nước cũng như trên thế giới. Có những quỹ rất nổi tiếng thế giới như Ford, Bill & Melinda Gates, vv. cũng như những quỹ nhỏ không tên tuổi, chẳng hạn một công ty tư nhân nào đó. Tiền để làm nghiên cứu, việc sắm thêm các máy móc thiết bị cho nghiên cứu cũng từ nguồn kinh phí xin thêm này mà ra, chứ không dựa 100% vào điều kiện hiện có của trường đại học. Chứ không phải cứ muốn làm nghiên cứu là trường đại học sẽ cấp tiền cho mà làm đâu ạ!

Bởi vậy ở Việt Nam cứ muôn thủa câu hỏi: tiền làm nghiên cứu ở đâu ra? Thì phải lăn lộn tìm nguồn tài trợ, dựa vào tính khả thi của bản đề xuất nghiên cứu của mình, để xin tài trợ từ các công ty, hay các tổ chức. Vậy xin hỏi, nếu hàng năm các giảng viên của trường kiếm về hàng trăm triệu USD qua việc viết các đề xuất nghiên cứu, đóng góp mua sắm máy móc thiết bị, cơ sở vật chất cho trường, thì lương của họ cao như vậy có đúng không? Và cũng xin hỏi, nếu trường đại học của Việt Nam cũng trả lương cao cho giảng viên như vậy, thì trong 10 giảng viên, bao nhiêu người có khả năng đem lại tiền về cho trường theo cách như vậy?

Lập luận như vậy để thấy một thực tế của khoa học ở Việt Nam: sự ỳ trệ. Những người đam mê làm nghiên cứu khoa học, họ sẽ tìm mọi cách để xin được kinh phí từ nhiều nguồn khác nhau, chứ không dựa dẫm vào tiền lương của họ, tiền tài trợ của trường. Bởi vậy, nếu cái khả năng đó không có, thì không phải vì sự thiếu năng động, sự yếu kém của những người làm nghiên cứu, thì là vì cái gì? Còn nếu chỉ thích làm thợ giảng, không năng động, đến mức phải dùng ‘cần câu và củ carot’ thì mới chịu nghiên cứu, thì tiền lương như vậy có đúng không?

Nếu không làm nghiên cứu được ở Việt Nam, thì đi ra nước ngoài làm (như rất nhiều nhà khoa học của Việt Nam trên khắp thế giới). Bởi vậy cũng không thể nói người Việt Nam không có nhiều bài báo quốc tế, bởi số lượng tác giả Việt Nam trên các bài báo quốc tế là đáng kể.

Và đây là phản hồi của tôi:

Tôi cũng có mấy ý kiến trao đổi lại:

(1) Lương, trách nhiệm và quyền lợi của giảng viên "cơ hữu" (= permanent) ở nước ngoài, chẳng phải đó cũng là một loại chính sách "cây gậy và củ cà rốt" hay sao? Phải có công bố quốc tế mới có thể là gv cơ hữu, phải xin được tiền tài trợ từ nghiên cứu, nếu không thì ... mất việc (= cây gậy), nhưng nếu xin được tài trợ thì toàn quyền sử dụng nó, và được những tưởng thưởng về status, về bonus, vv (=củ cà rốt). Ý tôi muốn nói là có chính sách và sự kích thích phù hợp.

Đó chỉ là một cách nói của tôi, em đừng lấy đó để cho rằng gv VN là ù lì, trì trệ.

(2) Lương chỉ là một ý rất nhỏ; còn các điều kiện khác về cơ sở vật chất (phòng thí nghiệm, máy móc vv) và thư viện, tài liệu, và quan trọng hơn là cộng đồng khoa học nữa. Tôi rất không đồng ý với các phê phán khơi khơi của ông Tuấn hay của những người sống/làm việc ở các nước tư bản phát triển, thấy VN ít có công bố quốc tế thì kết luận là các nhà khoa học VN kém. Cái mà các "nhà khoa hoc" (tạm gọi thế) của VN cần không phải là sự mạt sát, mà là các giải pháp. Mà giải pháp nào đi nữa thì cũng chẳng thể tách rời trình độ phát triển của quốc gia ấy.

Cho nên hãy nhìn vào các nước có điều kiện tương tự VN để so sánh, chứ đừng lấy tiêu chuẩn các nước Âu, Mỹ rồi áp vào cho VN.

(3) Như em nói, các nhà khoa học của VN không kém, vì khi ra nước ngoài họ làm được khá nhiều việc, vì điều kiện tốt hơn. Và ai đi được thì đã đi (và sẽ còn đi nữa) dẫn đến chảy máu chất xám sang các nước phát triển. Sự phát triển của các nước Âu, Mỹ cũng có một phần đóng góp của chất xám thế giới thứ ba đấy. Ngô Bảo Châu mà ở VN thì chắc khó mà làm toán được như hiện nay em ạ.

Nói ngắn gọn lại: Không thể nâng cao năng lực KH của VN bằng cách mạt sát lực lượng khoa học của VN, như ông Tuấn vẫn hay làm.
Người đăng: Unknown

Thứ Ba, 13 tháng 11, 2012

Mẩu tin ấy là đây, từ báo điện tử của chính phủ: http://www.baomoi.com/Home/GiaoDuc/baodientu.chinhphu.vn/Kiem-tra-thong-tin-70-tien-si-khong-lam-nghien-cuu-khoa-hoc/9750487.epi.

Với những ai không có thời gian vào đọc, xin tóm gọn trong một câu: Chính phủ đang yêu cầu kiểm tra lại số liệu công bố trên báo của ĐHQG-HCM, nơi vừa tổ chức một hội thảo hoành tráng cuối tuần trước về giáo dục đại học VN với hội nhập quốc tế, đại khái thế vì tôi cũng chỉ mới đọc loáng thoáng vài mẩu tin trên báo về hội thảo này mà thôi.

Đọc loáng thoáng, nhưng tôi cũng kịp ghi nhận chi tiết "70% tiến sĩ không làm nghiên cứu khoa học" mà một nhà khoa học nào đó (chắc không phải là tiến sĩ trong các trường đại học của VN, vì họ đâu có làm nghiên cứu gì bao giờ!) đã phán trong báo cáo nào đó của mình, chả biết lấy số liệu ở đâu mà tài thế!

Khi đọc thông tin đó, chính tôi cũng rất thắc mắc và vô cùng muốn phản ứng bằng câu hỏi: Dựa vào số liệu nào mà tác giả nào đó đã dám khẳng định đến 70% tiến sĩ ở VN không làm nghiên cứu khoa học; mà làm nghiên cứu khoa học ở đây được định nghĩa là làm gì mới được chứ? Hay chỉ có ai có công bố quốc tế mới được xem là có làm nghiên cứu, như một vài "nhà khoa học" nào đấy thường hay khẳng định?

Nếu quả chỉ dựa vào tiêu chuẩn "công bố quốc tế" để xác định một người có làm khoa học hay không thì điều này cũng hơi đáng ngờ đây, vì nhiều thầy cô mà tôi biết ở một ngôi trường đại học ở Úc nơi tôi đã theo học sau đại học cũng chẳng thấy có mấy công bố ở đâu, trừ các hội thảo nho nhỏ cấp trường hoặc cùng lắm là trong các hội nghị của hội ngôn ngữ học ứng dụng quốc gia (tức là Úc).

Cái này thì cũng chẳng khác gì các giảng viên của VN công bố trong các hội thảo trong nước tại VN. Chỉ có điều, vì "trong nước" của họ lại là nước lớn, và vì họ nói tiếng Anh nên việc phổ biến đến cộng đồng quốc tế dễ dàng hơn rất nhiều so với, ví dụ như Việt Nam, chẳng hạn.

Vì có nghi ngờ - và lẽ ra đã phản ứng, nếu như không phải là trước đó tôi vừa có một bài tranh luận dài với mấy "nhà khoa học" trong và ngoài nước về một lô những số liệu trong một bài viết thuộc dạng "đinh" trên báo Tuổi Trẻ nên thôi không phản ứng nữa, sợ bị hiểu lầm là tấn công cá nhân - nên khi đọc mẩu tin ngắn này, tôi cũng thấy ... mừng mừng.

Tất nhiên không phải tôi mừng vì thông tin do "nhà khoa học" nào đó dưa ra đã bị nghi ngờ và kiểm tra lại, mà mừng vì thấy chính phủ (bắt đầu?) có quan tâm đến sự chính xác của thông tin và số liệu trên báo chí. Là một điều rất cần thiết để có những quyết định đúng đắn về đường lối, chính sách.

Nhưng mừng rồi thì tôi lại băn khoăn, có phải đúng là chính phủ (bắt đầu?) quan tâm đến số liệu để có thể ra quyết định đúng đắn hay không? Hay là ... hay là ... chỉ vì những số liệu đó có đụng chạm đến Bộ Giáo dục? Nên đòi kiểm tra lại cho ... bõ ghét? Để dạy cho ai đó một bài học? Ừ nhưng đây là một bài học về việc đưa ra những số liệu không có căn cứ, lại còn dám đụng đến những người có quyền có chức nữa chứ.

Nếu nói sai thì bị nhắc nhở như thế cũng ... đáng rồi đó, mới đây Giám đốc BBC còn phải từ chức vì đưa tin sai nữa thì sao?

Còn về chính phủ ấy à, thì, thời này là thời của Internet và minh bạch thông tin, nên nếu mình có cái gì chưa hay hoặc sai sót là thiên hạ cứ thế mà rêu rao lên thôi. Không cấm được đâu. Nên tốt nhất là cứ phải làm mọi thứ cho cẩn thận, đến hết khả năng của mình. Và tất nhiên, nhớ lưu lại các số liệu và thông tin để khi cần dùng đến - kể cả để phản bác những thông tin của người "tấn công" mình.

Cho nên, tuy việc được đề cập đến ở đầu entry này chẳng có gì là hay ho, nhưng rõ ràng nó cũng cho người ta một bài học kinh nghiệm.

Chỉ hy vọng đây là một bài học nhẹ nhàng mà có hiệu quả cho tất cả các bên ...
Người đăng: Unknown

Thứ Tư, 7 tháng 11, 2012

Đó là tựa của một bài viết mới trên trang blog về giáo dục của Ngân hàng thế giới, có thể truy cập tại địa chỉ sau: http://blogs.worldbank.org/eastasiapacific/node/3039. Tên tiếng Anh của bài viết này là "What skills are employers looking for in Vietnam's workforce?"

Một bài viết tuy không có gì mới lắm - vì những vấn đề và giải pháp đã được đưa ra từ lâu, dù việc triển khai chúng lại là một vấn đề khác, có thể là do thiếu một số những điều kiện cốt lõi - nhưng vẫn đáng cho ta đọc và suy nghĩ, vì giúp ta xác nhận lại những vấn đề mà nền giáo dục của VN cần quan tâm.

Xin trích dẫn ở đây một vài đoạn đáng lưu ý:

The World Bank together with the Central Institute of Economic Management (CIEM), one of Vietnam’s top think tanks, recently conducted a survey of 350 manufacturing and service sector firms in Hanoi and HCMC and surrounding provinces. It focused on understanding what employers think about the skills of their current workforce and what skills they are looking for.

Critical thinking, communication, team work

The results are not what you might think. First of all, employers say they are not happy with the quality of education and the skills of the available workforce, in particular its engineers and technicians. The dissatisfaction is especially pronounced among those businesses that are expected to carry Vietnam's transition to an advanced industrialized economy: its innovative and exporting firms.

Dịch tóm tắt: 

WB và CIEM vừa đây đã tổ chức khảo sát 350 doanh nghiệp trong khu vực sản xuất và dịch vụ tại HN và TPHCM để tìm hiểu xem doanh nghiệp đòi hỏi những kỹ năng nào ở người lao động.

Câu trả lời: Họ KHÔNG hài lòng với chất lượng giáo dục cũng như kỹ năng của lực lượng lao động hiện nay, đặc biệt là các kỹ sư và kỹ thuật viên. Sự không hài lòng này đặc biệt rõ ở những doanh nghiệp vốn rất quan trọng trong việc chuyển đổi nền kinh tế của VN sang một nền kinh tế dựa trên công nghệ cao: các công ty sáng tạo và xuất khẩu.

Second, employers say they are not just looking for technical skills, such as the practical ability of an electrician to do the job. They are equally looking for what experts call "cognitive" and "social", or "behavioral", skills. For example, next to job-specific technical skills, critical thinking comes out as the most desired skill for white collar workers, followed by problem-solving, leadership and communication skills. Team work and problem-solving skills are considered important for blue collar workers. These findings are consistent with the opinions of many readers, like Barbara Shaw Miller who commented on our previous blog that there is a need to encourage critical thinking.

Những doanh nghiệp này không chỉ cần những kỹ năng về kỹ thuật, mà còn cần những kỹ năng tư duy cũng như kỹ năng xã hội. Những kỹ năng cụ thể đó là tư duy phản biện, giải quyết vấn đề, kỹ năng lãnh đạo và kỹ năng giao tiếp. Làm việc nhóm và giải quyết vấn đề là những kỹ năng quan trọng nhất đối với các công nhân kỹ thuật.

Tất cả những điều nói trên không có gì mới, phải không? Chẳng cần khảo sát, những điều này báo chí của chúng ta cũng đã nói từ lâu rồi mà. Điều quan trọng là bây giờ sẽ làm gì đây? Đảng và Nhà nước rõ ràng là đang có những nỗ lực cải cách. Nhưng ý kiến sau đây thì rất đáng chú ý đây này:

Where to start?
Many readers asked where to start in improving the skills of the workforce? What should education reform focus on now? Education reform is unlikely to be successful if it is set by directive by government officials.  Experience from around the world suggests that the fundamental education reforms that are needed to prepare the Vietnamese workforce for the future require an open discussion in society, involving businesses, schools and universities, parents and students and the authorities at different levels.  That discussion needs to start with a forum for employers to communicate what they are looking for - and to ensure that everyone gets the message: critical thinking, communication and teamwork are the skills of the future.

Xin dịch những chỗ in nghiêng đậm:

Cải cách giáo dục sẽ không thể thành công nếu nó được thực hiện chỉ bằng các chỉ đạo của nhà nước. Kinh nghiệm trên khắp thế giới cho thấy muốn thực hiện cải cách căn bản để chuẩn bị cho lực lượng lao động của VN trong tương lai thì cần có sự thảo luận rộng rãi và cởi mở trong toàn xã hội. Và cuộc thảo luận ấy có thể bắt đầu với các nhà tuyển dụng bằng cách cung cấp cho xã hội biết họ cần gì ở lực lượng lao động, và làm cho mọi người ý thức rằng tư duy phản biện, kỹ năng giao tiếp, và kỹ năng làm việc nhóm là các kỹ năng của tương lai. 

Tôi đặc biệt ấn tượng với câu đầu tiên của phần dịch tóm tắt ở trên. Nước ngoài họ ... ở bên ngoài hệ thống của chúng ta nên họ thấy rõ thế đấy; còn nước ta, chẳng biết có ai nghĩ gì không nhỉ, trong cơ chế Đảng lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối như hiện nay, với niềm tin sắt đá rằng Đảng ta là lương tri, là đạo đức, và đương nhiên, là đỉnh cao trí tuệ với chính nghĩa sáng ngời?
Người đăng: Unknown

Thứ Ba, 6 tháng 11, 2012

Những số liệu ghi chép dưới đây được rút ra từ bài chương 18 của tập sách Teaching: Professionalization, Development and Leadership do D. Johnson và R. Mclean làm chủ biên, nhà xuất bản Springer Science + Business Media B. V. ấn hành năm 2008. Tựa của chương này là "The Role of the Private Sector in Higher Education in Malaysia", dịch ra tiếng Việt là Vai trò của khu vực tư nhân trong giáo dục đại học tại Malaysia.

Trước hết, xin có vài dòng giới thiệu bài viết. Theo tôi, đây là một bài viết rất quan trọng, cung cấp nhiều thông tin cốt lõi giúp ta hiểu được quá trình phát triển của đại học tư của Mã Lai,  và các yếu tố thiết kế có tác động tích cực đến sự phát triển này. Đây chính là  những điều mà các nhà chính sách giáo dục của VN cần tìm hiểu và suy ngẫm để giúp giáo dục đại học tư nhân tại VN phát triển hết tiềm lực vốn có của nó, góp phần quan trọng trong việc đào tạo nhân lực cho Việt Nam, đồng thời là yếu tố kích thích sự cải tiến của cả hệ thống giáo dục đại học của VN nói chung.

Dưới đây là một số thông tin và số liệu đáng ghi nhớ trích từ chương sách nói trên, kèm những nhận định của tôi. Để cho các bạn dễ theo dõi, phần nào do tôi trích từ bài viết sẽ được in nghiêng, còn phần ý kiến riêng của tôi thì viết chữ thường như thế này.
------------

1. Bối cảnh ra đời của khối đại học tư Mã Lai

- Vào đầu thập niên 1990, quá trình toàn cầu hóa nhanh chóng do kết quả của cuộc cách mạng công nghệ thông tin - truyền thông và sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức đã đặt ra cho tất cả các quốc gia những yêu cầu mới về nhân lực trình độ cao.

- Năm 1991, Thủ tướng Mahathir (có bằng tiến sĩ, thường được nhắc đến dưới danh xưng Dr Mahathir) của Mã Lai đã đưa ra một tầm nhìn 30 năm theo đó Mã Lai sẽ đạt được mục tiêu trở thành một quốc gia phát triển vào năm 2020. (Nói thêm: Hiện nay, vào cuối năm 2012, ta đã có thể thấy được mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2020 đối với Mã Lai là hoàn toàn khả thi. Quả là một tầm nhìn sáng suốt!)

- Cùng với việc đưa ra tầm nhìn 2020, chính phủ Mã Lai đã xây dựng 2 chính sách đi kèm, đó là Chính sách phát triển quốc gia (National Development Policy, NDP) 1991-2000 và Chính sách tầm nhìn quốc gia (National Vision Policy, NVP) 2001-2010. Trước đó, Chính sách kinh tế mới (New Economic Policy) 1971-1990 đã được áp dụng và được xem là tạo được nền tảng cho việc xây dựng tầm nhìn 2020.

- Sau khi đưa ra tầm nhìn 2020 và chính sách phát triển kinh tế 1991-2000, vào năm 1996 chính phủ Mã Lai xây dựng Siêu hành lang đa truyền thông (Multimedia Super Corridor) với mục đích biến Mã Lai thành một trong những trung tâm công nghệ đa truyền thông của khu vực. Quan điểm của các nhà lãnh đạo Mã Lai thời ấy là công nghệ thông tin và truyền thông sẽ là cỗ máy chính của nền kinh tế tri thức. Chỉ riêng dự án này thôi đã tạo ra việc làm cho 30 ngàn "công nhân tri thức" trong và ngoài nước.

- Cũng trong năm 1991, chính phủ Mã Lai đưa ra chính sách phổ cập giáo dục đến hết trung học phổ thông. Trước đó, phổ cập giáo dục chỉ đến hết lớp 9, sau đó học sinh phải thi chứng chỉ tốt nghiệp trung học cơ sở, và tỷ lệ học sinh có thể tiếp tục học lên trung học phổ thông chỉ chiếm 50%. Với chính sách phổ cập giáo dục mới, tất cả học sinh đều có quyền học tiếp đến lớp 11 rồi sau đó mới thi chứng chỉ tốt nghiệp trung học.

- Việc phổ cập giáo dục phổ thông khiến cho nhu cầu học đại học tăng vọt, và ngân sách công không thể có đủ để trang trải cho sự thiếu hụt này. Trong khi đó, cũng trong giai đoạn này thì các nước Anh, Úc vốn trước đó là địa điểm du học quen thuộc của những người dân Mã Lai không có chỗ học trong nước cũng có chính sách giảm số học bổng và tăng học phí một cách đáng kể đối với sinh viên quốc tế, khiến nhiều sinh viên Mã Lai không thể trang trải nổi. Vì thế, chính phủ Mã Lai đã kêu gọi sự tham gia của khu vực tư nhân vào giáo dục đại học để cung cấp thêm chỗ học cho nhu cầu học tập của dân Mã Lai, đồng thời giúp giữ lại trong nước những đồng ngoại tệ cần thiết cho công cuộc phát triển đất nước.

Nói tóm lại, ra đời của giáo dục đại học tư của Mã Lai phản ánh một quan điểm mới mẻ, phải nói là có tính cách mạng, của chính phủ Mã Lai trong việc tìm kiếm các nguồn lực bổ sung và các giải pháp để đạt được mục tiêu nâng cao chất lượng nhân lực của Mã Lai trước những áp lực cạnh tranh  của một nền kinh tế tri thức toàn cầu và những đòi hỏi về sự phát triển của đất nước Mã Lai - một quan điểm ngay từ đầu đã rất tích cực về vai trò của đại học tư (chứ không giống như VN, cho phép ra đời đại học tư một cách miễn cưỡng, đến nỗi trong thời gian đầu ngay cả tên gọi "đại học tư" chúng ta cũng không dám sử dụng, mà phải tránh né để gọi chúng là "đại học dân lập", với những hệ lụy mà đến giờ các trường ra đời trong thời gian ấy vẫn còn đang phải giải quyết một cách không mấy dễ dàng).

(còn tiếp)

Người đăng: Unknown

Thứ Bảy, 3 tháng 11, 2012

Entry này nhằm lưu lại những ghi chép của tôi về đại học tư ở Malaysia để làm tư liệu viết báo cáo cho một hội thảo do hai hiệp hội, gồm HH Khoa học kỹ thuật và HH các trường ĐH, CĐ NCL tổ chức trong tháng 11 này. Vì nó chỉ là những ghi chép nên sẽ tản mạn chứ không phải là một bài viết hoàn chỉnh.

Nhưng tại sao tôi lại quan tâm đến giáo dục đại học tư nhân của Mã Lai nhỉ? À, tôi quan tâm đến giáo dục đại học tư nhân của Mã Lai là vì tôi quan sát thấy rằng lịch sử phát triển của đại học tư của Mã Lai và VN ban đầu khá giống nhau. Cả hai đều bắt đầu vào thập niên 1990, với quá trình toàn cầu hóa và sự xác lập vững vàng của nền kinh tế tri thức. Cả hai cho mãi đến cuối thập niên 1980 vẫn chỉ có đại học công, và đại học tư là một khái niệm xa lạ với toàn xã hội. Cả hai được nhà nước cho phép ra đời để đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng của người học mà nguồn lực hạn chế của nhà nước không đáp ứng được. Cả hai khi mới ra đời đều được xem là loại trường "hạng hai" so với các trường đại học công lập vốn đã truyền thống lâu đời, và chỉ là lựa chọn cho những người học không thể vào được trường công lập.

Giống nhau như vậy ở điểm xuất phát, nhưng đoạn đường phát triển của đại học tư ở hai quốc gia lại hoàn toàn khác nhau. Trong hơn hai thập niên qua, giáo dục đại học tư nhân của Mã Lai phát triển khá thuận lợi cả về số lượng lẫn chất lượng. Có thể kể một vài con số ấn tượng như sau: Hiện nay tỷ lệ người học ở khối trường đại học tư của Mã Lai đã chiếm đến gần 50%, tức ngang ngửa với đại học công; ĐH tư từ chỗ chỉ được đào tạo ở trình độ thấp như các chứng chỉ nghề ngắn hạn, các khóa học trung cấp hoặc cao đẳng, hoặc phải liên kết với các trường nước ngoài để có thể đào tạo ở trình độ đại học, đến nay đã có nhiều trường tư được đào tạo không chỉ ở trình cử nhân mà còn ở các trình độ sau đại học như thạc sĩ và tiến sĩ. Không những thế, các trường đại học tư của Mã Lai còn thu hút được khá nhiều sinh viên quốc tế đến học, và thậm chí đã có một số tên tuổi lớn, là niềm tự hào của nền giáo dục Mã Lai, chứ không chỉ là những trường đại học xoàng xoàng, "loại hai" như thời gian đầu mới thành lập nữa. Một vài ví dụ mà ngay ở VN ta cũng có nghe tên có thể kể là Multmedia University và Petronas University chẳng hạn.

Trong khi đó, tại VN sự phát triển của ĐH tư là một con đường gập ghềnh với nhiều khúc quanh và những đoạn đường vòng. Cho đến nay đại học NCL của VN chỉ mới thu hút được 15% tổng số sinh viên theo học, và khả năng chỉ tiêu đạt 40% tổng số sinh viên học tại các trường NCL vào năm 2020 của VN vẫn còn là một câu hỏi lớn, đặc biệt là khi xét đến những khó khăn mà các trường NCL của VN đã và đang gặp phải trong mấy năm gần đây trong việc thu hút sinh viên.

Vậy đâu là nguyên nhân của sự khác biệt này? Vì muốn tìm câu trả lời cho vừa nêu nên tôi phải bỏ công ra và miệt mài đọc cả gần một tuần nay để tìm câu trả lời, và tin rằng mình đã tìm thấy - well, ít nhất là tôi đã có được một "giả thuyết" ban đầu. Tất nhiên, giả thuyết đó có thể không đúng, nhưng không ai cấm tôi không được có giả thuyết cả, điều quan trọng là đi tìm thông tin để kiểm chứng nó thôi.

Và kết quả của việc đi tìm thông tin ấy là ... entry này, và có thể còn nhiều entry nữa, cho đến khi tôi viết xong cái báo cáo đó. Vậy các bạn đọc nhé, và nếu co thắc mắc, góp ý hoặc tranh luận gì thì cứ gửi comment vào blog nhé.

Enjoy!
--------------------

1. So sánh đại học công và tư ở Mã Lai
Bài viết của các tác giả Wilkinson và Yusssov, đăng trên Tạp chí Giáo dục đại học (Higher Education) của NXB Springer, 2005, vo 50: 361–386. Truy cập ở đây: http://www.mohe.gov.my/portal/images/utama/doc/artikel/2011/11-22/Public%20&%20private%20provision%20of%20higher%20education%20in%20Malaysia.pdf

(còn tiếp)
Người đăng: Unknown

Thứ Năm, 1 tháng 11, 2012

Như một bạn đọc của blog này đã nêu trong một nhận xét trong bài trước của tôi, tâm lý sính bằng cấp thì ở bất cứ nơi nào và bất kỳ ai cũng có, không nhiều thì ít. Như vậy, câu hỏi đặt ra là bệnh sính bằng cấp có phải lúc nào cũng xấu hay không, hay cũng có mặt tích cực của nó, như nhận xét của một bạn đọc đã gửi đến blog này ngày hôm qua?

Muốn trả lời câu hỏi này thì trước hết cần giải thích rõ bệnh "sính bằng cấp" là cái gì, và những ảnh hưởng của nó, cả xấu lẫn tốt, đến mọi người ra sao. Thay vì tự đọc và tóm tắt báo cáo của Ronald Dore bằng lời của mình, tôi xin trích dịch từ bài viết này vì tác giả của nó đã trả lời giúp tôi khá rõ ràng, và tôi chỉ làm công việc chọn lọc những gì liên quan để giới thiệu cho độc giả mà thôi. Những gì trong ngoặc kép là tôi trích nguyên văn bản tiếng Anh, còn lại những gì ngoài ngoặc kép là dẫn dắt hoặc diễn giải của tôi từ ý tưởng của bản gốc.

Bệnh sính bằng cấp là gì?

Cụm từ sính bằng cấp dùng để chỉ hiện tượng "xã hội tin rằng người có bằng cấp cao ví dụ như bằng cử nhân hoặc bằng thạc sĩ sẽ là những ứng viên tốt nhất cho một công việc nào đó chỉ vì họ có bằng cấp." Hiện tượng này còn được gọi là "lạm phát giáo dục" (education inflation). "Đây là quan niệm cho rằng khi người ta đạt được một bằng cấp cao hơn thì người ta sẽ đương nhiên đủ tiêu chuẩn để có được một vị trí cao hơn tại nơi làm việc."

Xin xem bản gốc tiếng Anh dưới đây:

http://voices.yahoo.com/what-diploma-disease-7988012.html

According to some researchers, there is a trend where society believes that people who hold higher education degrees such as bachelors or masters degrees, are the best candidate for a job simply because they have a degree. The term for this is education inflation. Education inflation is the concept that as someone obtains a higher degree or degrees, they will naturally qualify for a higher position in the workforce.


Tác hại của bệnh sính bằng cấp
Có thể thấy là căn bệnh sính bằng cấp sẽ làm cho tất cả mọi người vướng vào một cuộc đua để làm sao có được bằng cấp cao nhất mà họ có thể đạt được, vì tin rằng họ sẽ có cơ hội tốt hơn những người không có bằng cấp như mình. Thực ra điều này không đúng vì nhà tuyển dụng không cần bằng cấp mà là kinh nghiệm làm việc thực sự. Ngay cả nếu như ứng viên có đủ loại bằng cấp thì điều đó cũng không có nghĩa là họ sẽ có những kỹ năng hoặc kinh nghiệm phù hợp cho công việc của họ. Chỉ ôm cặp đến trường và sưu tầm đủ loại bằng cấp nhưng không có chút kinh nghiệm gì cần thiết cho công việc thì chắc chắn chẳng ai có thể bảo đảm là họ sẽ đạt yêu cầu của công việc. 

Bản gốc tiếng Anh của ý nói trên:

 This is what keeps a student in school, constantly striving for the highest degree they can get, with the misguided notion that they will stand a far better chance than other applicants who might not have the same degree or degrees. This is not the case in most situations, since actual experience is what an employer is usually looking for. Even if an applicant has degrees, it doesn't mean they have the skills or experience necessary for the job. Just going to school and collecting degrees without any work place experience, certainly does not guarantee that a student will meet the requirements of the job.

Nhận xét thêm (của tôi):
Tôi thấy những nhận định của tác giả ở trên sao mà đúng thế! Hiện nay ở VN số người có bằng cấp sau đại học ở các cơ quan và đơn vị công lập phải nói là đã tăng lên vượt bậc so với cách đây chừng một chục năm. Riêng trong khối đại học thì điều này phải nói là rất rõ nét. Trong khi cách đây khoảng 10 năm thì trong ngành của tôi, số người có bằng Thạc sĩ đã được xem là hiếm, thì đến nay Tiến sĩ cũng đã đầy ra đó rồi. Thế mà sao tôi vẫn thấy mọi việc vẫn dậm chân tại chỗ về chất lượng - nếu không nói là kém đi. Trong khi đó, nếu ta tin là bằng cấp cao hơn tất nhiên phải dẫn đến năng lực nhiều hơn thì lẽ ra các vấn đề của giáo dục - hay nói hẹp hơn, chỉ trong lãnh vực giảng dạy tiếng Anh thôi - hiện nay phải khá hơn rất nhiều lần so với hồi xưa chứ nhỉ?

Tác hại thứ hai là nó tạo ra một sự ngộ nhận rằng bằng cấp quả thật có liên quan đến năng lực, và tạo ra một ảnh hưởng tiêu cực đến toàn xã hội, khi các nhà tuyển dụng luôn luôn đòi hỏi các ứng viên phải có các bằng cấp kèm theo, dù những tấm bầng đó không thực sự cần thiết cho công việc. Hệ quả là tất cả mọi người có khả năng đi học đại học thì đều phải cố gắng lấy ít nhất được một tấm bằng, còn những người không có điều kiện đi học thì đánh chấp nhận mức lương thấp cho những công việc mà thực ra không cần đến bằng cấp. Từ đó sẽ dẫn đến tâm lý oán giận đối với những người khá giả, được học đại học và sau đó lại được làm những việc trả lương cao.

Phần trích dẫn ở bên dưới:


So how does diploma disease affect society? That's easy. It falsely creates the idea that degrees are a necessity if a person wants to be a better, and better employed, person. It also has negative effects on a society as a whole when employers insist on certain degrees for their applicants, whether or not a degree is truly needed for the job. This forces people who can afford it to go to school and get at least one degree, while those who can't afford or can't get into college are stuck in low paying jobs where a degree isn't required. This is a situation that ultimately causes societal problems and ill feelings toward the wealthy and the college graduate who are employed in the good positions that pay a decent salary.
Đấy, bệnh sính bằng cấp đấy. Tôi tạm ngưng ở đây đã nhé, hẹn các bạn entry sau.
---
More materials on Diploma Disease (or education inflation/credentialism)

http://www.academicjournals.org/JASD/E-books/2012/July/JASD%20-%20July%202012%20Issue.pdf
Người đăng: Unknown
Đó là một câu hỏi mà nhiều người đã đặt ra, và tôi cũng được đến 2 tờ báo hỏi câu hỏi này.

Dưới đây là một số câu trả lời, trong đó có phần trả lời của tôi. Trên báo Sài Gòn Giải Phóng hôm nay. Link đây: http://www.baomoi.com/Home/GiaoDuc/sggp.org.vn/Day-tieng-Anh-tai-truong-pho-thong--Vien-binh-co-xoay-chuyen-tinh-hinh/9670863.epi. Xin chép lại phần trả lời của tôi ở  bên dưới để lưu, trước hết là cho mình (vì rất nhiều khi tôi trả lời báo chí xong thì cũng chẳng nhớ để theo dõi xem trên báo ghi lại những gì mình nói có đúng ý mình không nữa).

Thực ra tôi còn nhiều điều muốn nói hơn về điều này, nhưng bận quá, nên thôi,  chỉ đưa link để lưu. Khi nào rảnh hơn một chút sẽ viết thêm về việc học tiếng Anh tại VN, và có thể sẽ so sánh với các nước khác trong khu vực, đặc biệt là dưới góc nhìn từ chính sách ngôn ngữ. Chắc chắn sẽ là một đề tài thú vị.

---------

  • Tạo hứng thú, sinh khí mới môn tiếng Anh
Tôi nghĩ, học tiếng Anh do có người bản ngữ dạy là tốt, và tôi không nghĩ thầy người Anh, Australia, Mỹ… sẽ hơn thầy Philippines. Đã có một trường đại học mời một thầy nước ngoài có bằng cấp đàng hoàng đến dạy tiếng Anh cho sinh viên, nhưng ông chỉ dạy được vài học kỳ thì bị sinh viên phản ánh chất lượng dạy không ổn, nên buộc trường phải cho ông ta nghỉ.
Do vậy, cũng có người hơi dè dặt với việc thuê thầy ngoại, nhất là thầy Philippines, nhưng thực tế tôi thấy Philippines có chất lượng giáo dục khá tốt, rất hội nhập và có thể rất yên tâm về chất lượng thầy Philippines. Nếu mời thầy người Âu - Mỹ, phải trả lương cao hơn, nhưng với thầy Philippines có thể trả 2.000 USD được.

Nói đi, cũng phải nói lại, ở góc độ người công tác sư phạm trong nước, tôi thấy việc thuê thầy “ngoại” làm các thầy “nội” cảm thấy chạnh lòng. 2.000 USD là mức trả lương khá cao so với giáo viên trong nước, thậm chí nếu chỉ trả lương 1.000 USD thôi, chắc chắn nhiều người trong nước giỏi tiếng Anh cũng sẽ chọn ngành sư phạm và nỗ lực làm tốt việc dạy tiếng Anh. Nhưng nếu trả cho giáo viên tiếng Anh với mức lương cao như vậy, thì các giáo viên các bộ môn khác sẽ phải tủi thân.
Chắc vì bài toán khó như vậy nên phải dùng đến thầy “ngoại” để không ai so bì. Con tôi học tại một trường trung học phổ thông, nhà trường cũng đã mời thầy “ngoại” dạy tiếng Anh, phụ huynh cũng phải đóng thêm một khoản tiền. Rõ ràng từ khi có thầy “ngoại” dạy, con tôi và các bạn có vẻ hứng thú học tập hơn.
Do vậy cũng nên nhìn nhận thực tế nhiều thầy “nội” từng giảng dạy tiếng Anh lâu năm, thậm chí đã đi từng học ở nước ngoài về, nhưng không tạo được khí thế háo hức học tập cho học sinh, trong khi thầy “ngoại” lại làm được. Học ngoại ngữ nhất thiết phải giao tiếp với người bản ngữ để luyện phát âm thật chuẩn và giao tiếp bằng ngoại ngữ thuần thục, do vậy, theo tôi, cũng nên ủng hộ chủ trương của Sở GD-ĐT TPHCM.  
Cô VŨ THỊ PHƯƠNG ANH (Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ chất lượng giáo dục, thuộc Hiệp hội Các trường đại học ngoài công lập)
Người đăng: Unknown
Mà ở "trời tây" cũng đầy ra vậy!

Bằng chứng ư? Họ có hẳn một mục trong từ điển bách khoa về căn bệnh này kia. Ở đây này: http://www.encyclopedia.com/doc/1O88-diplomadisease.html.

Tiếng Anh họ gọi nó là "diploma disease" đấy các bạn ạ.

Bạn đọc định nghĩa về "diploma disease" (lấy nguồn từ link ở trên) ở đây nhé.

diploma disease A term developed by Ronald Dore as part of a critique of the excessive reliance on the selection process in formal educational institutions (and hence on educational qualifications) as evidence of ability, training, and merit for entry to particular occupations, careers, or internal labour-markets. This phenomenon is sometimes referred to as credential inflation. As an unintended consequence of the belief that educational certificates are the key to obtaining the best-paid and most secure jobs, individuals may come to strive for constantly higher credentials in order to procure jobs which previously did not demand these, and for which their education does not in any case prepare them. Education thereby becomes merely a ritualistic process of accumulating qualifications. 

Không chỉ có một mục trong từ điển bách khoa, mà tác giả Ronald Dore, người đã làm giấy khai sinh cho tên gọi của căn bệnh này còn có những báo cáo chi tiết về triệu chứng, căn nguyên và những gợi ý giải pháp cho việc chữa trị căn bệnh này. Một trong những báo cáo ấy có thể tìm thấy ở đây: http://www.ids.ac.uk/files/dmfile/Dore11.2final.pdf. Báo cáo viết từ năm 1980, và mặc dù tôi chỉ mới liếc qua thôi nhưng đã có cảm tưởng là bài viết sẽ đưa ra những thông tin và nhận định thú vị và hữu ích.

Nhưng thôi, tạm thời  hãy viết tới đó; bây giờ tôi phải về nhà (từ cơ quan), tối về viết tiếp. Hẹn gặp lại các bạn với những thông tin mới mẻ.

-----
Một số tài liệu liên quan đáng đọc:

1. http://www.swaraj.org/shikshantar/healingdiplomadisease.pdf - Chữa bệnh sính bằng cấp
2. http://www.oise.utoronto.ca/legacy/research/edu20/moments/1976dore.html?cms_page=edu20/moments/1976dore.html - Ronald Dore công bố cuốn Diploma Disease năm 1976
3. http://jppsg.ac.uk/socsi/resources/wrkgpaper32.pdf - Cái bẫy cơ hội (Opportunity trap)
4. http://www.nationmultimedia.com/opinion/Is-industry-or-business-training-best-remedy-for-d-30189610.html - Thuốc chữa cho bệnh? Bài này nói chuyện sính bằng cấp ở Thái Lan.


Người đăng: Unknown

Chủ Nhật, 28 tháng 10, 2012

Thực ra tôi không muốn viết bài này nữa, vì mọi  việc cho đến giờ cũng đã khá rõ ràng: bài viết trên báo Tuổi Trẻ ngày 25/10/2012 có rất nhiều điểm không chính xác về số liệu, không nhất quán về phương pháp, và không logic trong lập luận, vì vậy giá trị thông tin của bài báo là rất thấp, nếu không nói là chẳng có chút giá trị nào.

Tôi nghĩ, nếu các tác giả là người có trách nhiệm, hoặc báo Tuổi Trẻ quan tâm đến ý kiến của bạn đọc (là tôi) thì nên có phản hồi. Nhưng tôi cũng biết đòi hỏi điều này đối với VN là hơi khó, nên có lẽ những phản hồi, tranh luận của tôi sẽ chỉ rơi vào khoảng không im lặng mà thôi, như tôi đã có kinh nghiệm một vài lần khác với tác giả Phạm Thị Ly.

Nhưng đã hứa với độc giả là sẽ kết thúc bài tranh luận hôm nay nên tôi vẫn phải viết thêm vài giòng, trong đó có một điểm mà tôi vẫn chưa nêu rõ ràng trong 3 bài trước. Đó là: tôi thực sự không hiểu các tác giả đưa những thông tin về GDP của VN và các nước khác trong khu vực vào phần cuối của bài viết để làm gì.

Theo tôi, đây là phần viết yếu nhất của bài viết, vì có vẻ các thông tin được lắp ghép từ các nguồn khác nhau mà dường như không có mục đích, kèm những phát biểu khá chủ quan, không có chứng cứ. Ngoài ra, tôi cũng không hiểu tại sao tác giả đang lấy số liệu công bố khoa học từ năm 1996 đến 2010, mà về kinh tế lại lấy số liệu từ năm 1970. Mốc 1970 ở đây có ý nghĩa gì thế, và tại sao lại lấy xa thế?

Quan trọng hơn, sau khi phát biểu rằng có những số liệu (nhất quán!) cho thấy về mối liên hệ giữa NCGD với chất lượng của nền giáo dục, bài viết thay vì đưa ra những số liệu cho thấy NCGD của VN kém đi kéo theo sự tụt hậu của giáo dục (một điều mà tôi không tin các tác giả có thể dễ dàng chứng minh), thì lại đưa ra những thông tin về thu nhập bình quân đầu người.

Cách viết như vậy khiến ta không thể hiểu theo cách nào khác hơn là cho rằng các tác giả tin rằng có một mối liên hệ trực tiếp và tuyến tính giữa GD và kinh tế, và cứ hễ nơi nào giáo dục tốt thì ngay lập tức kinh tế cũng phải tốt. Một nhận định chưa được chứng minh và có thể xem là khá hồ đồ. Những lời phát biểu như thế này mà không có số liệu kèm theo thì quả là thiếu thận trọng.

Xin mọi người hãy đọc lại phần trích dẫn dưới đây:

"Chưa có những chứng cứ để nói rằng sự yếu kém trong KHGD góp phần vào sự tụt hậu của giáo dục, nhưng những dữ liệu hình như nhất quán với nhận xét đó. Tính từ thập niên 1970 đến nay, khoảng cách của VN với các nước trong khu vực (trừ Philippines) càng lúc càng xa. So với năm 1970 thì thu nhập bình quân trên đầu người đã tăng gần 20 lần, trong lúc đó Malaysia tăng 21 lần, Thái Lan tăng 24 lần, Indonesia tăng 36 lần, Singapore tăng 45 lần. So sánh tương quan giữa các nước với VN thì năm 1970 thu nhập bình quân đầu người của Indonesia cao hơn VN 1,3 lần, đến năm 2010 Indonesia đã cao hơn VN 2,4 lần. Cùng thời gian đó, tương quan GDP đầu người giữa Malaysia và VN là 6,3 lần và 6,8 lần; giữa Singapore và VN là 14,9 lần và 34,2 lần; giữa Thái Lan và VN là 3,1 và 3,7 lần."

Nhận xét và tranh luận:

- Những "dữ liệu nhất quán với nhận xét" rằng "sự yếu kém trong NCGD góp phần vào sự tụt hậu của giáo dục" mà các tác giả đã phán ra ở trên là gì, xin vui lòng cho biết.

Riêng tôi, khi ngồi xem xét kỹ các số liệu trong Scimago thì tôi thấy nếu chỉ xét theo công bố quốc tế, thì chẳng có gì đáng phải la hoảng lên như thế về NCGD của VN. Nếu nó tệ thì nó cũng chỉ tệ ở mức trung bình, vì còn có những ngành tệ hơn, dù ta có thể tin là mức đầu tư dành cho những ngành này là cao hơn ngành giáo dục.

- Nếu không có dữ liệu, các tác giả không nên tùy tiện "gợi ý" rằng  vì nghiên cứu giáo dục của VN kém (theo nghĩa: xếp hạng công bố quốc tế theo cơ sở dữ liệu của Scimago là kém) nên nền giáo dục của VN hiện nay mới tụt hậu như thế. Và sự suy diễn lại càng tệ hại, thiếu logic hơn khi các tác giả có hàm ý rằng vì NCGD kém --> giáo dục tụt hậu --> kinh tế kém phát triển.

Xin được nhấn mạnh với 2 tác giả rằng đây là một sự suy diễn quá mức đến không thể chấp nhận được, vì chúng ta chỉ mới có trong tay một ít số liệu về công bố quốc tế theo một cách xếp hạng là Scimago. Trên thế giới còn nhiều cơ sở dữ liệu và cách xếp hạng khác nữa, đồng thời cũng không thể không quan tâm đến số lượng và chất lượng của những nghiên cứu trong nước.

Ngoài ra, công bố quốc tế có thể dùng làm một loại thước đo về năng lực nghiên cứu mà chủ yếu là nghiên cứu hàn lâm, lý luận (academic research), nhưng điều đó hoàn toàn không đồng nhất với thực tiễn nghiên cứu của một quốc gia, đặc biệt là những nghiên cứu nhỏ, action research, gắn với thực tế và áp dụng ngay mà hầu như rất ít khi công bố rộng rãi. Vì vậy, ngay cả khi các số liệu trong bài báo là chính xác và nếu ta có cơ sở để tin rằng những số liệu của Scimago đã đủ để cho phép các tác giả nhận định của tác giả về nghiên cứu khoa học của VN còn kém, thì các tác giả cũng chỉ nên dừng ở đó, chứ không nên gợi ý về mối liên hệ nhân quả giữa chất lượng của NCGD với chất lượng của cả một nền giáo dục. Đây chính là điều mà tôi phản đối các tác giả và bài viết nhiều nhất.

Riêng gợi ý của các tác giả về sự kém phát triển của VN so với các nước khác trong khu vực (khoảng cách ngày càng xa) thì tôi cho là một gợi ý rất vu vơ và thiếu logic nhất, đến độ không cần quan tâm đến. Nếu nói về mối liên hệ giữa NCKH và sự phát triển kinh tế của VN, tôi đề nghị các tác giả quan tâm đến các lãnh vực sau đây vì nó trực tiếp liên quan đến toàn bộ các hoạt động của một nền kinh tế. Đó là nghiên cứu của các ngành doanh thương (business), kinh tế, ngân hàng, tài chính; hoặc nghiên cứu về môi trường; công nghệ và công trình. Tôi đã xem qua các số liệu và thấy rằng quốc gia gần chúng ta nhất (xấp xỉ bằng nhau về thứ hạng) là Indonesia nên có thể sử dụng quốc gia này để đối sánh, và cặp quốc gia ĐNÁ cao hơn chúng ta một bậc mà chúng ta có thể so sánh là Thái Lan và Mã Lai.

Những so sánh ban đầu của tôi cho thấy, nghiên cứu giáo dục của chúng ta gần ngang ngửa với Indo về số lượng (mặc dù quốc gia này đông dân hơn ta vài lần), nhưng nghiên cứu kinh tế và môi trường thì ta thua họ kha khá; nghiên cứu về kỹ thuật của chúng ta cũng kém, nhưng có hai ngành khoa học mà chúng ta trội hơn hẳn so với Indo là toán và khoa học máy tính với rất nhiều công bố. Những điều này các bạn có thể tự kiểm tra lại trong cơ sở dữ liệu của Scimago, vì tôi lười chụp màn hình và đưa lên quá.

Với những số liệu như vậy, liệu tôi có thể đưa ra những nhận định trái ngược với 2 tác giả PTL và NVT rằng những thành tựu về toán học và khoa học máy tính của VN chẳng hề có chút ứng dụng gì trong các ngành khác, ví dụ như môi trường hoặc kinh tế; vì thế không nên tiếp tục đầu tư cho các ngành  "vô tích sự" này nữa, được không? Tất nhiên tôi nói như vậy chỉ để phản biện, chứ không đủ "tự tin" như các tác giả để đưa ra các kết luận đao to búa lớn mà chỉ dựa trên một vài số liệu sơ sài như trong bài báo 25/10.

Well, bài tranh luận đã rất dài còn tôi thì quá bận. Xin chấm dứt ở đây và mong các tác giả vui lòng trả lời cho bạn đọc và cho tôi. Nếu các tác giả không trả lời, tôi cũng đành phải tự hiểu theo kiểu của mình. Và rất cám ơn các độc giả của blog đã đọc và trao đổi. Tôi sẵn lòng trao đổi thêm, công khai qua comment hoặc riêng qua mail, với những ai quan tâm đến chủ đề này.

Có lẽ một hôm nào đó tôi sẽ viết ra thành bài những nhận định của riêng tôi về những số liệu so sánh nói trên.

Người đăng: Unknown

Thứ Sáu, 26 tháng 10, 2012

(tiếp theo bài 1 và bài 2)

Để độc giả dễ theo dõi cuộc tranh luận khá dài này, xin tóm tắt ở đây luận điểm chính của bài báo của 2 tác giả PTL và NVT. Nhìn chung, bài báo dường như muốn đưa đến người đọc thông điệp rằng nghiên cứu giáo dục của VN là vô cùng tệ hại, vừa ít về số lượng vừa thấp về chất lượng, và đó có thể là nguyên do của sự tụt hậu của giáo dục VN, chưa kể đó có thể còn là nguyên nhân cho sự chậm phát triển về kinh tế và xã hội của VN so với những nước khác trong khu vực. 


Dưới đây là những trích dẫn đáng chú ý và cho thấy luận điểm của tác giả như tôi đã tóm tắt ở trên. Những chỗ có chữ màu đỏ là những số liệu mà tôi sẽ sử dụng trong phần tranh luận/phản biện của tôi.

"Việc phân tích kết quả nghiên cứu của khoa học giáo dục (KHGD) VN dựa trên các thước đo theo chuẩn mực quốc tế: số lượng, chất lượng và tầm ảnh hưởng của các công trình nghiên cứu có thể cho thấy một số xu hướng rất đáng quan ngại về nghiên cứu giáo dục ở nước ta."


"Trong khoảng thời gian từ 1996-2010, ngành KHGD của VN công bố được 39 công trình nghiên cứu khoa học trên các tập san quốc tế. Con số này chiếm khoảng 9% tổng số ấn phẩm khoa học trong ngành khoa học xã hội (354 bài trong cùng thời gian). Tính trung bình mỗi năm VN chỉ công bố trên hai bài nghiên cứu về giáo dục. Đó là một con số rất khiêm tốn khi đối chiếu với số người chuyên làm về nghiên cứu giáo dục trên cả nước."


"Tính theo số lượng, VN đứng hạng 14 trong 21 nước khu vực Đông Á (Malaysia hạng 8, Thái Lan hạng 9, Philippines hạng 11). Con số bài nghiên cứu về giáo dục của VN chỉ bằng 1/37 so với Đài Loan (hạng 1) và 1/30 so với Hong Kong (hạng 2)..."


"Ở nước ta có khoảng 24.300 người có bằng tiến sĩ, trong đó 7.924 người đang làm việc trong các trường đại học và cao đẳng. Tuy nhiên, chúng tôi không có tư liệu cho thấy trong số này có bao nhiêu người chuyên nghiên cứu về giáo dục, cũng như không có số liệu về kinh phí dành cho nghiên cứu giáo dục. Cho đến nay, ở VN chỉ có một số ít đơn vị nghiên cứu giáo dục chuyên nghiệp."


Chất lượng của các công trình nghiên cứu có thể thể hiện qua số lượng trích dẫn và chỉ số H. Bảng so sánh dưới đây cho thấy xét về số lượng và về chỉ số H, xét về tỉ lệ trích dẫn trên mỗi bài báo VN đều đứng hạng 13/14, chỉ hơn Campuchia. 

"Chưa có chứng cứ để nói rằng sự yếu kém trong KHGD góp phần vào sự tụt hậu của giáo dục, nhưng những dữ liệu hình như nhất quán với nhận xét đó. Tính từ thập niên 1970 đến nay, khoảng cách của VN với các nước trong khu vực (trừ Philippines) càng lúc càng xa."

"Sự yếu kém về KHGD của VN thể hiện qua công bố quốc tế đã phần nào cho thấy sự bất cập của giáo dục trong việc đổi mới để đáp ứng yêu cầu của một nền kinh tế đang thay đổi nhanh chóng dưới tác động của toàn cầu hóa. Việc đối chiếu với kết quả nghiên cứu giáo dục của các nước trong khu vực cho thấy trong vòng 15 năm qua, tất cả các nước đều có bước phát triển nhảy vọt, kể cả VN, nhưng nhịp điệu phát triển của KHGD VN còn khoảng cách xa so với các nước và không tương xứng với nhịp điệu phát triển của nền kinh tế."


Quả thật, nếu chỉ nghe loáng thoáng thì những nhận định nói trên của hai tác giả của bài báo không phải là không hợp lý, chắc chắn là thuận tai người đọc vì nó cũng là những nhận định chung của đa số người VN hiện nay, như thường thấy thể hiện trên báo chí. Ở đây chúng ta chưa xét đến việc nhận định chung đó có chính xác hay không, vì muốn trả lời thì phải có những nghiên cứu cẩn thận với các số liệu cụ thể được xem xét dưới nhiều góc độ - một việc làm đòi hỏi nhiều công sức. Nếu bài báo ngày 25/10/2012 chỉ là một bài dưới dạng ý kiến thì tôi sẽ không bao giờ có thắc mắc hoặc tranh luận gì cả, dù có đồng quan điểm với các tác giả hay không.


Tuy nhiên, bài báo nói trên lại đưa ra rất nhiều số liệu, và (có vẻ như) các lập luận đều được xây dựng trên cơ sở dữ liệu công bố khoa học của Scimago, từ đó dẫn đến những kết luận có vẻ khoa học mà theo tôi là rất đang kinh ngạc đến độ cần phải xem xét lại. Đặc biệt là gợi ý rằng sự yếu kém của nghiên cứu "khoa học giáo dục" có thể là nguyên nhân của sự tụt hậu hiện nay của ngành giáo dục. Vì vậy, tôi đã phải bỏ công ra xem xét lại toàn bộ số liệu so sánh về công bố khoa học của VN với một số nước trong khu vực để kiểm chứng lại các nhận định trong bài báo. 


Để làm điều này, tôi đã thực hiện các so sánh giữa các nước Việt, Indo, Thái, Mã và Phi bằng công cụ so sánh do Scimago cung cấp. Lý do tôi chọn các nước này là vì chúng gần gũi với Việt Nam về nhiều mặt nên những so sánh với chúng mới có thể có ý nghĩa nào đó đối với chúng ta. So sánh với những nước quá xa VN về trình độ phát triển hoặc về quy mô (quá nhỏ như Brunei, Singapore, quá lớn như TQ) sẽ chẳng có mấy ý nghĩa.

Và sau đây là kết quả của những quan sát của tôi, với những nhận định hoàn toàn khác với 2 tác giả PTL và NVT, cho thấy bài viết nói trên có quá nhiều sai sót về số liệu, chưa kể những lỗ hổng về kiến thức hoặc phương pháp và những điểm thiếu logic trong lập luận. 

Xin phân tích các số liệu đó dưới đây. Nguồn số liệu có thể tải từ địa chỉ sau: http://www.scimagojr.com/countryrank.php?area=0&category=0&region=Asiatic+Region&year=all&order=it&min=0&min_type=it


3. Những quan sát  độc lập từ dữ liệu về công bố khoa học của Scimago


Trước hết, theo số liệu của Scimago thì thứ hạng công bố khoa học của 5 quốc gia Việt, Indo, Phi, Thái, Mã trên tổng số 33 quốc gia thuộc khu vực châu Á theo thứ tự đã nêu là 13, 12, 14, 8, 9. Nói cách khác, 5 nước này được chia làm 2 nhóm với những nước khá giống nhau trong mỗi nhóm  (vị trí sát cạnh nhau), xếp theo thứ tự từ trên xuống dưới thì nhóm trên là Thái (8), Mã (9); nhóm dưới là  Indo (12), Việt (13), và Phi (14). 


Tuy nhiên, công cụ so sánh của Scimago chỉ cho phép so sánh tối đa là 4 nước, vì vậy tôi đã thực hiện 2 lần so sánh: so sánh giữa 4 nước thuộc 2 cặp (4 nước Thái, Mã, Indo, Việt) và so sánh 3 quốc gia thuộc nhóm dưới (Indo, Việt, Phi).

Chỉ mới tới đây thôi ta đã thấy ngay mấy điểm sai biệt giữa số liệu gốc của Scimago và bài báo nói trên:


a/ Danh sách của Scimago cung cấp cho chúng ta 33 quốc gia thuộc châu Á (nếu xét chung mọi ngành khoa học) hoặc 29 nước (nếu chỉ xét ngành giáo dục) chứ không phải là 21 nước. Các tác giả đã tự chọn lọc ra 21 nước Đông Á để so sánh, nhưng không đưa tiêu chí để chọn các quốc gia được để ở lại trong danh sách, vì theo tôi xem xét số quốc gia cần loại ra khỏi danh sách đầy đủ  (33 nước) chắc chắn phải nhiều hơn 12 nước. 


Tính sơ sơ tôi đã có thể loại ra được 13 quốc gia sau: 1. Northern Mariana Island (vị trí 32), 2. Maldives (30), 3. Turmenistan (29), 4. Bhutan (28), 5. Afghanistan (27), 6. Tajikistan (26), 7. Kazakhstan (18), 8. Nepal (17), 9. Sri Lanka (16), 10. Uzbekistan (15), 11. Bangladesh (11), 12. Pakistan (10), 13. India (3).  

Ngoài ra, việc chọn lọc danh sách các quốc gia thuộc vùng Đông Á của các tác giả dường như cũng không dựa theo tiêu chí chung nào, ví dụ wikipedia thì cho rằng vùng Đông Á chỉ gồm có 8 nước (xem ở đây: http://en.wikipedia.org/wiki/East_Asia), và nếu tính luôn cả 10 nước ĐNÁ vào thì chúng ta cũng chỉ mới có 18 nước. Lẽ ra khi các tác giả tính toán lại số liệu thì nên làm rõ những căn cứ để tính toán, còn nếu không thì tốt nhất là để nguyên số liệu gốc cho độc giả dễ kiểm chứng. 

b/ Tỷ lệ công bố về nghiên cứu giáo dục trên tổng số bài nghiên cứu trong lãnh vực khoa học xã hội của VN trong dữ liệu của Scimago là 11%, không phải là 9% (39 bài trên tổng số 354 bài). Đây là một con số mà chỉ cần tính nhẩm cũng ra được, không hiểu tại sao các tác giả lại có thể nhầm lẫn một cách vô tư trong một bài báo "tầm cỡ" như vậy?

c/ Các số liệu so sánh trong bài báo rất tùy tiện, không có cơ sở khoa học, khiến ta có quyền nghi ngờ các tác giả đã cố tình như vậy để có thể đưa ra một bức tranh ảm đạm về nghiên cứu khoa học, đặc biệt là nghiên cứu của ngành giáo dục, tại VN.

Trước hết là việc gộp các nước Đông Á và các nước Đông Nam Á vào cùng một nhóm để so sánh (mà tại sao lại là 21 nước?)Ai cũng biết là có một sự cách biệt lớn giữa các nước Đông Á như Nhật, Hàn, Hồng  Kông, Đài Loan, và gần đây là Trung Quốc, so với các nước Đông Nam Á, đặc biệt là những nước nghèo, nhỏ, lạc hậu, chiến tranh như Phi, Việt, Cam, Lào, Miến vv. Tất nhiên trong khối ĐNÁ cũng có một số nước đã vươn lên mạnh mẽ không thua gì một số nước Đông Á khác như Singapore hoặc Mã Lai, nhưng đó là thiểu số, chứ không phải là mẫu số chung. Chỉ cần xét GDP bình quân của hai khối là có thể thấy ngay chúng không thể để lên cùng một bàn cân mà so sánh được. 

Vì vậy, những con số so sánh mà tác giả đưa ra như số bài nghiên cứu về giáo dục của VN chỉ bằng 1/37 so với Đài Loan hoặc 1/30 so với Hồng kông là hoàn toàn vô nghĩa, chỉ có tác dụng làm méo mó hình ảnh của nghiên cứu giáo dục VN trong bức tranh chung. Nếu muốn khẳng định nghiên cứu giáo dục của VN là đặc biệt kém thì trước hết hãy đưa ra ví dụ về nghiên cứu khoa học của một ngành khác ở VN để so sánh với 2 nước nói trên, rồi sau đó mới so sánh riêng NCGD của VN so với 2 nước đó. 

Đó cũng là điều tôi đã làm để kiểm chứng, và sau đây là kết quả so sánh. Các bạn cũng có thể vào trang web trên để kiểm tra lại những kết quả này. 

+ So sánh ngành Engineering (là một ngành lớn, tương đương với toàn ngành Social Sciences mà trong đó Education chỉ là một chuyên ngành): Việt Nam có 657 bài, Đài là 68,346, Hồng Kông là 26,797. Nói cách khác, tỷ số bài công bố khoa học của ngành Engineering của VN so với Đài Loan là 1/104, hoặc so với Hồng Kông là 1/40 (tính tròn số).

+ So sánh chuyên ngành Mechanical Engineering (một chuyên ngành trong engineering, tương đương với chuyên ngành giáo dục trong social sciences) : Việt Nam 97, Đài Loan 5770, Hồng Kông 2255. Nói cách khác, tỷ số bài công bố khoa học của ngành Engineering của VN so với Đài Loan là 1/59, hoặc so với Hồng Kông là 1/23 (tính tròn số).

Như vậy, chỉ cần so sánh với một ngành/chuyên ngành khác là đã có thể thấy số liệu về nghiên cứu giáo dục của VN mặc dù thấp và ai cũng muốn nó tốt hơn, nhưng không hề quá tệ mà có lẽ tốt hơn nhiều ngành khác. Thậm chí nếu ta so sánh ngành giáo dục với toàn ngành engineering rồi kết luận rằng nghiên cứu giáo dục của VN dù được đầu tư thấp, chắc chắn là không so được với các ngành công trình hay kỹ thuật ở VN, nhưng vẫn đạt được thành tích như vậy nên cần phải được tuyên dương, thì không hiểu các tác giả sẽ trả lời như thế nào nhỉ?

Tất nhiên tôi đưa ra những con số này chỉ để phản biện phương pháp so sánh của tác giả mà thôi, chứ không nhằm mục đích tuyên dương ngành giáo dục. Nhưng ngược lại, các tác giả đã tùy tiện chọn những con số "đẹp"  để đưa ra phục vụ lập luận chủ quan của mình, một cách làm hết sức phi khoa học!

---
(Tôi vừa viết một đoạn khá dài để kết thúc entry này, nhưng lại quên không save nên bây giờ bị mất, phải viết lại, hic!)

d. Vị trí của  nghiên cứu giáo dục VN trong các bảng so sánh: VN xếp hạng 14/21, 13/14, hay một hạng nào khác, và tại sao mẫu số lại thay đổi cho các lần so sánh?

Bài báo đưa ra 2 thứ hạng khác nhau của VN: hạng 14 trên 21 nước Đông Á (không rõ là các nước nào?) và hạng 13/14 (cũng vậy, không rõ là các nước nào). Sự thay đổi này khá đột ngột mà không có một lời giải thích.

Khi tìm hiểu trong cơ sở dữ liệu của Scimago ta thấy nếu xét theo tất cả các ngành thì có tất cả là 33 nước, Việt Nam đứng thứ 13 (tôi đã nêu ở trên, so sánh với 4 nước khác là Phi, Mã, Thái, Indo). Còn nếu xét riêng ngành giáo dục thì có 29 nước, Việt Nam đứng hạng 14, đứng ngay sau Indo hạng 13, còn Phi xếp hạng 11. Như vậy, so với vị trí tính chung cho mọi ngành khoa học thì vị trí của ngành giáo dục có hơi thấp hơn trung bình chung một chút.

Cơ sở dữ liệu của Scimago cũng cho phép ta thay đổi các thông số khi truy xuất dữ liệu để xếp hạng. Các lựa chọn để xếp hạng có thể có là: theo số lượng bài báo - documents, số lần trích dẫn - cites, số lần tự trích dẫn - self-cites, tỷ lệ trích dẫn trên mỗi bài báo - cites per document, và chỉ số H - H index. Ngoài ra, ta cũng có thể thay đổi số lượng tối thiểu các bài báo (documents), các trích dẫn (cites), hoặc các bài báo được trích dẫn (citable documents). Mỗi bộ thông số các lựa chọn khác nhau sẽ cho ra các thứ hạng khác nhau.

Để cố gắng hiểu được những con số  cho thấy vị trí của VN là 14/21 và 13/14 mà bài báo đưa ra nhưng không kèm  lời giải thích, tôi đã vào Scimago để thử mọi lựa chọn có thể. Các kết quả tìm kiếm của tôi không hề có kết quả nào giống với 2 kết quả nói trên,v ì vậy, có thể giả định là các tác giả đã tự tạo ra danh sách so sánh riêng của mình, một điều chỉ có thể chấp nhận nếu ngay từ đầu các tác giả làm rõ mục tiêu và tiêu chí lựa chọn của mình, và  không tự thay đổi tiêu chí lựa chọn.

Dưới đây là hình chụp các kết quả so sánh vị trí của ngành giáo dục VN so với 28 nước châu Á khác, xét theo công bố quốc tế trên số liệu của Scimago:

Hình 1: Vị trí của VN theo tổng số bài báo: 14/29 (Phi: 11, Indo: 13, Mã: 8, Thái: 9). Thứ hạng này giống với  kết số liệu mà bài báo nêu ra ở phần đầu bài viết, nhưng khác mẫu số vì bài báo nêu kết quả của VN là 14/21 chứ không phải 14/29.

Hình 2: Vị trí của VN theo tổng số lần trích dẫn: 16/29 (Phi: 11, Indo: 13, Mã: 7, Thái: 9).  Thứ hạng này hoàn toàn không giống với các số liệu mà bài báo nêu ra.

 Hình 3: Vị trí của VN theo tỷ lệ trích dẫn trên mỗi bài báo: 19/29 (Phi: 14, Indo: 16, Mã: 6, Thái: 13). Thứ hạng này cũng hoàn toàn không giống với các số liệu mà bài báo nêu ra.


Hình 4: Vị trí của VN theo chỉ số H: 20/29 (Phi: 14, Indo: 17,  Mã: 10, Thái: 12). Thứ hạng này cũng hoàn toàn không giống với các số liệu mà bài báo nêu ra.

Tuy nhiên, danh sách này không chính xác do 3 nước có chỉ số H bằng 0 (kém nhất) lại được xếp lên trên cùng theo mặc định của phần mềm xếp hạng, vì vậy cần phải thay đổi thông số lựa chọn (chỉ chọn những quốc gia có ít nhất 1 trích dẫn), lúc ấy danh sách chỉ còn lại 18 quốc gia do nhiều quốc gia không đáp ứng yêu cầu đã bị loại, trong đó có cả 3 quốc gia nói trên. Dưới đây là kết quả chính xác hơn:

Hình 4b- Vị trí của VN theo chỉ số H: 17/18, chỉ trên Kazakhstan vị trí số 18 (Phi: 12, Indo: 14,  Mã: 7, Thái: 9). Thứ hạng này cũng hoàn toàn không giống với các số liệu mà bài báo nêu ra.

Nhận xét chung:

- Thứ hạng của VN trên tổng số 29 nước  (hoặc 18 nước sau khi đã điều chỉnh, xem hình hình 4 và 4b) ngày càng thấp đi theo các cách so sánh khác nhau: số lượng bài báo, số lần trích dẫn, tỷ lệ trích dẫn trên mỗi bài báo, và chỉ số H. Tuy nhiên, sự thay đổi theo chiều hướng thấp đi xảy ra cho tất cả 5 nước đang được so sánh, trừ một vài ngoại lệ nhỏ (thứ hạng của Mã tăng nhẹ ở hình 2 và hình 3).

Do đó, sự giảm thấp đi này không thể được xem là dấu hiệu cho thấy khoảng cách về chất lượng nghiên cứu giáo dục giữa VN và các nước khác trong khu vực là đáng báo động,  mà có lẽ cần phải hiểu rằng nó cho thấy mức độ hội nhập của nghiên cứu giáo dục VN và của khu vực ĐNÁ/châu Á đối với thế giới: nước nào hội nhập sớm hơn và có vị thế cao hơn (về cả kinh tế, khoa học kỹ thuật và cả  trên chính trường nữa) thì sẽ có độ nhận diện cao hơn, và các bài viết của các nhà khoa học các nước này dễ được quan tâm hơn.

- Dù gì thì gì, mẫu số chung của các bảng so sánh này không thay đổi và không thể thay đổi vì như thế sự so sánh sẽ không còn ý nghĩa.

- Lời khẳng định trong bài báo: "xét về số lượng và về chỉ số H, xét về tỉ lệ trích dẫn trên mỗi bài báo VN đều đứng hạng 13/14, chỉ hơn Campuchia" vì vậy là một câu vô nghĩa, vì mỗi lần xét theo một tiêu chí so sánh thì kết quả sẽ khác nhau và không thể có một thứ hạng chung cho cả 3 tiêu chí (số lượng, chỉ số H, tỉ lệ trích dẫn trên mỗi bài báo) như bài báo đã nêu.

- Ngoài ra, một nhận xét không liên quan đến số liệu nhưng rất đáng quan tâm, đó là logic của nhận định nói trên (phần tô màu đỏ). Xin chép lại một lần để phân tích cho rõ: " xét về số lượng và về chỉ số H, xét về tỉ lệ trích dẫn trên mỗi bài báo VN ĐỀU đứng hạng 13/14, chỉ hơn Campuchia". 

Đây là một câu rất tối nghĩa. Xin chú ý từ "đều". Phải chăng nó có nghĩa là khi xếp hạng theo cả 3 tiêu chí (số lượng, tỷ lệ trích dẫn trên mỗi bài báo, và chỉ số H) thì kết quả đều ra là 13/14? Tôi nghĩ điều này khó lòng có thể xảy ra theo những số liệu mà tôi đã dẫn ở trên. Cách hiểu còn lại là từ "đều" chỉ đi với cụm từ "xét về tỉ lệ trích dẫn trên mỗi bài báo" thành một cặp từ (xét ... trên mỗi bài báo [thì] VN đều ...); nếu thế, đây là một câu hoàn toàn vô nghĩa và buộc ta phải nghĩ rằng người viết câu này không hiểu nghĩa của cụm từ tỉ lệ trích dẫn trên mỗi bài báo (cites per document), vì thế khi viết "mỗi" thì quen tay thêm từ "đều" vào cho cân bằng!

Đến đây, đã có thể kết luận là những số liệu trong bài báo có rất nhiều sai lệch với số liệu gốc, thể hiện một cách làm cẩu thả (?) hoặc vô nguyên tắc (tùy tiện thay đổi tiêu chí lựa chọn, nếu quả thật có thể tính ra các kết quả như trên - cái này phải chờ phản hồi của tác giả).

Bài phản biện của tôi đến đây đã quá dài, mà vẫn chưa kết thúc vì còn có nhiều điều để nói. Nói ngắn gọn, chỉ một bài viết khoảng 1200-1500 từ (tôi áng chừng thế) mà bài báo đã để lại quá nhiều lỗi về số liệu, chưa kể lỗi về lập luận, về phương pháp, vv, mà tác giả của nó lại là những tác giả được xem là có tên tuổi trong lãnh vực giáo dục, chúng ta phải hiểu điều này như thế nào đây?

Tôi sẽ kết thúc bài tranh luận này trong entry tới.


(còn tiếp)

Người đăng: Unknown

Thứ Năm, 25 tháng 10, 2012

(tiếp theo bài 1)

2. Về sự "phát triển không tương xứng ..."

Luận điểm chính của phần này, cũng là luận điểm chung của bài viết, có thể thấy qua  hai đoạn trích dưới đây (đoạn đầu tiên và đoạn cuối cùng của phần có tiểu tựa nêu trên):


Các tác giả viết: "Chưa có những chứng cứ để nói rằng sự yếu kém trong KHGD góp phần vào sự tụt hậu của giáo dục, nhưng những dữ liệu hình như nhất quán với nhận xét đó. Tính từ thập niên 1970 đến nay, khoảng cách của VN với các nước trong khu vực (trừ Philippines) càng lúc càng xa. So với năm 1970 thì thu nhập bình quân trên đầu người đã tăng gần 20 lần, trong lúc đó Malaysia tăng 21 lần, Thái Lan tăng 24 lần, Indonesia tăng 36 lần, Singapore tăng 45 lần. So sánh tương quan giữa các nước với VN thì năm 1970 thu nhập bình quân đầu người của Indonesia cao hơn VN 1,3 lần, đến năm 2010 Indonesia đã cao hơn VN 2,4 lần. Cùng thời gian đó, tương quan GDP đầu người giữa Malaysia và VN là 6,3 lần và 6,8 lần; giữa Singapore và VN là 14,9 lần và 34,2 lần; giữa Thái Lan và VN là 3,1 và 3,7 lần."



"Sự yếu kém về KHGD của VN thể hiện qua công bố quốc tế đã phần nào cho thấy sự bất cập của giáo dục trong việc đổi mới để đáp ứng yêu cầu của một nền kinh tế đang thay đổi nhanh chóng dưới tác động của toàn cầu hóa. Việc đối chiếu với kết quả nghiên cứu giáo dục của các nước trong khu vực cho thấy trong vòng 15 năm qua, tất cả các nước đều có bước phát triển nhảy vọt, kể cả VN, nhưng nhịp điệu phát triển của KHGD VN còn khoảng cách xa so với các nước và không tương xứng với nhịp điệu phát triển của nền kinh tế."


Bỏ qua những nhận xét và tranh luận mà tôi đã nêu ra trong bài 1, đây chính là phần làm cho tôi sửng sốt nhất về bài báo nói trên vì những suy luận đơn giản đến thô thiển và cực kỳ nguy hiểm của bài viết. Xin tóm tắt lại luận điểm chính của tác giả ở đây: Nghiên cứu giáo dục tại VN yếu kém (qua số lượng công bố quốc tế ít ỏi và chất lượng thấp theo cách tính của bảng xếp hạng còn tranh cãi là Scimago), điều này dường như là nguyên nhân làm cho giáo dục VN yếu kém (tuy chưa khẳng định vì chưa có chứng cứ, nhưng các tác giả đã có những dữ liệu nhất quán để đưa ra nhận định trên). 

Từ nhận định đó, dường như các tác giả có hàm ý  rằng để góp phần đổi mới giáo dục VN thì điều quan trọng nhất là phải đẩy mạnh việc nghiên cứu giáo dục về cả số lượng và chất lượng, nhưng chất lượng ở đây phải được đo đạc  bằng số lượng công bố quốc tế và các chỉ số định lượng khác như chỉ số trích dẫn vv theo phương pháp đánh giá của bảng xếp hạng Scimago?

Tranh luận:

* Các tác giả nêu ra những số liệu về thu nhập bình quân đầu người của VN và các nước trong khu vực nhằm mục đích gì? Để chứng minh VN phát triển chậm hơn các nước khác? Nếu vậy, các tác giả dựa vào căn cứ nào để xác định phải tăng bao nhiêu lần thì mới được xem là phát triển tốt? Nếu VN tăng 20 lần và được xem là chậm, thì Malaysia tăng 21 lần so với, vd Singapore tăng 45 lần, thì Malaysia được xem là một ví dụ của phát triển chậm hay là của phát triển nhanh? Cũng câu hỏi đó với Thái Lan, tăng 24 lần (so với Malaysia tăng 21 lần). Với số liệu này, phải chăng ta có thể kết luận rằng trong thời gian đó, Thái Lan có mức độ phát triển nhanh hơn Malaysia?

* Hoặc ngược lại, phải chăng các tác giả muốn khẳng định rằng VN có tốc độ phát triển không kém gì các nước lân cận, nhưng NCGD của VN thì không tương xứng với tốc độ phát triển kinh tế? Nếu vậy,  tác giả dựa vào mốc nào để xác định mức độ tương xứng đó? Ví dụ, nếu phát triển kinh tế (thể hiện qua thu nhập bình quân đầu người) tăng 20 lần như VN, thì nghiên cứu giáo dục cũng phải tăng 20 lần? Hay 15 lần, 10 lần, 5 lần, hoặc con số nào khác? Các tác giả hoàn toàn không đưa ra một gợi ý nào cả.  

Có lẽ gợi ý của các tác giả là phải làm theo các nước lân cận mà tác giả đã nêu tên ở đây. Như vậy, ta hoàn toàn có thể xem xét số liệu của các nước này từ trong cơ sở dữ liệu của Scimago và so sánh với VN. Nhưng tôi sẽ tạm để dành, chưa đưa ra những con số mà tiếp tục tranh luận với tác giả về những lập luận mà tôi cho là rất có vấn đề trong bài báo trước đã.

* Một hàm ý rất quan trọng trong bài viết là do nghiên cứu giáo dục tại VN rất yếu kém nên dường như điều này đã dẫn đến những yếu kém, lạc hậu của nền giáo dục VN hiện nay. Tất nhiên các tác giả đã cẩn thận rào đón thêm rằng điều này chưa có chứng cứ để khẳng định, nhưng dẫu sao thì các tác giả cũng khẳng định thì đã có những dữ liệu nhất quán cho phép đưa ra nhận xét như vậy (xem lại đoạn trích ở trên). 

Cũng như ở đoạn trên, những số liệu này chúng sẽ dễ dàng kiểm chứng và sẽ được tôi đề cập đến trong phần cuối của bài tranh luận của tôi. Ở đây tôi muốn hỏi, những số liệu về thu nhập bình quân đầu người ở đây có liên quan như thế nào với chủ đề chính của bài viết là nghiên cứu giáo dục, mà theo các tác giả là rất đáng báo động?

Phải chăng tác giả muốn nói rằng vì NCGD kém (qua số lượng bài báo quốc tế quá ít ỏi đã đề cập trong bài 1) nên (dường như) nền giáo dục của VN bị tụt hậu, và rồi từ đó dẫn thẳng đến hàm ý rằng sự tụt hậu về giáo dục khiến cho nền kinh tê của VN kém phát triển?

Nếu quả thực đây là dòng lập luận của tác giả, thì đây là sai lầm quan trọng nhất thúc đẩy tôi phải viết bài này. Dựa vào những nghiên cứu nào mà các tác giả có thể đưa ra những suy luận quá thô thiển đến độ nguy hiểm như vậy? Liệu từ những số liệu của bài báo chúng ta có thể rút ra kết luận rằng để phát triển giáo dục VN (từ đó kéo theo sự phát triển của nền kinh tế) thì chỉ cần tăng cường nghiên cứu "khoa học giáo dục" là xong? Nếu đúng như vậy, thì cần nghiên cứu cái gì trong "KHGD", hay nghiên cứu cái gì cũng được, miễn là có công bố quốc tế?

Cứ tạm chấp nhận rằng chúng ta cần đẩy mạnh nghiên cứu giáo dục (ừ thì ai cũng nghĩ thế), nhưng nếu có nhiều nghiên cứu có chất lượng tốt theo nghĩa giúp giải quyết những vấn đề của VN, mà không có công bố quốc tế, thì có giúp cải thiện chất lượng giáo dục (và từ đó kéo theo sự phát triển kinh tế mà biểu hiện là tăng thu nhập bình quân đầu người) hay không?

Thực sự, nếu đây là hàm ý của tác giả thì các tác giả hoàn toàn không có gì khá hơn những người làm chính sách giáo dục ở VN với những suy đoán phiến diện, lệch lạc, nhưng lại nguy hiểm hơn rất nhiều vì những suy nghĩ đơn giản ấy lại được hóa trang bằng những số liệu cứng trông rất đáng kính trọng, dù những số liệu này được lựa chọn một cách tùy tiện và có chủ đích để ủng hộ những luận điểm chủ quan của mình, bất chấp mọi nguyên tắc khoa học.

------
Tôi muốn kết thúc nhanh bài viết này cho xong cho trọn phần tranh luận để chờ đợi câu trả lời của các tác giả, nhưng vì bận việc cơ quan nên phải tạm dừng lại, sẽ viết nốt phần chót với các số liệu thú vị trong ngày nay hoặc trễ lắm là ngày mai.



Người đăng: Unknown
Báo Tuổi Trẻ số ra ngày hôm nay 25/10/2012 có đăng một bài viết dạng "tiêu điểm" đăng trọn trang 9 của hai tác giả Phạm Thị Ly thuộc ĐHQG-HCM và Nguyễn Văn Tuấn thuộc ĐH New South Wales (Úc) với tựa đề "Nghiên cứu khoa học của VN tiếp tục tụt hạng: Báo động từ nghiên cứu giáo dục".

Bài viết ra đời trong bối cảnh đề án Đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam  vừa được Hội nghị Trung ương xem xét nhưng chưa thông qua vì còn nhiều điểm chưa đáp ứng yêu cầu, và các tờ báo lớn của thành phố - trong đó có báo Tuổi Trẻ - đã và đang tổ chức diễn đàn trao đổi để lấy ý kiến góp ý tiếp tục đổi mới giáo dục Việt Nam.

Bài viết vừa nêu có vẻ được tờ Tuổi Trẻ liệt vào dạng bài "đinh", nổi bật với hai tác giả là những tên tuổi quen thuộc trong giới học thuật ở Việt Nam, có nhiều bài viết và báo cáo về giáo dục đăng ở khắp nơi từ báo chí phổ thông, báo tại hội thảo và sau đó được đưa vào kỷ yếu hoặc sách tham khảo vv mà nhiều sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh, và cả các nhà khoa học trong nước, các Viện nghiên cứu công lập và tư nhân sử dụng làm tài liệu học tập và tham khảo.

Riêng tác giả Nguyễn Văn Tuấn còn được biết đến nhiều hơn với tư cách một người chuyên hướng dẫn về các phương pháp nghiên cứu khoa học, trước đây chuyên dành cho giới nghiên cứu của ngành y, sau đó có mở rộng ra trong giới khoa học tự nhiên và kỹ thuật, nhưng gần đây có vẻ quan tâm nhiều đến các ngành xã hội và nhân văn, đặc biệt là giáo dục, có lẽ vì muốn góp tay vào để chữa trị cho một nền giáo dục mà ai đó đã ví như một con bệnh nan y, ốm nặng lâu ngày và dường như đã trở nên vô phương cứu chữa, như thông điệp của bài báo đã nêu ra.

Là một người hoạt động trong lãnh vực giáo dục suốt cả cuộc đời làm việc của mình, được đào tạo về ngành giáo dục ở nước ngoài - cùng quốc gia mà hiện nay ông Tuấn đang sinh sống - tôi không thể bỏ qua không đọc bài này, đặc biệt vì đây là những tác giả được xem là có tên tuổi. Và sửng sốt với những kết luận như đinh đóng cột và những gợi ý/hàm ý không kém mạnh mẽ của bài báo.

Sửng sốt đến độ không thể không viết bài này để tranh luận trực tiếp với hai tác giả, dù biết cách làm như thế này ở Việt Nam có thể không phù hợp, mà tôi lại còn có những lý do riêng để cố tránh đề cập trực tiếp đến cả hai tác giả vì đều là đồng nghiệp và đã từng làm việc với nhau ít hoặc nhiều.

Bài tranh luận này tôi muốn gửi trực tiếp đến hai tác giả và rất mong các tác giả có lời trao đổi lại, có thể không trả lời cho một cá nhân là tôi thì cũng cần trả lời bạn đọc ở trên báo Tuổi Trẻ, những người tin tưởng vào giá trị thông tin mà tờ báo đem lại. Tôi xin nhấn mạnh rằng bài viết này của tôi chỉ vì mục đích khoa học, do ảnh hưởng của hai tác giả mà đặc biệt là ông Tuấn đến những người đang làm hoặc đang học làm khoa học trong ngành giáo dục, nhóm người có vẻ như thuộc loại yếu kém toàn diện dẫn đến sự tụt hậu đến báo động như trong bài báo của hai tác giả đã nêu.

Nếu bỏ qua những khẳng định không có gì mới mà ai cũng có thể phát biểu về sự yếu kém nói chung của hoạt động nghiên cứu khoa học tại Việt Nam và khoa học xã hội và nhân văn nói riêng, đặc biệt nếu được đánh giá qua các chỉ số định lượng trong các hệ thống xếp hạng, nhận định chung của tôi về bài báo trên là nó có quá nhiều khẳng định thiếu cơ sở khiến cho những kết luận hoàn toàn không có tính khoa học và vì vậy không có giá trị.

Thật đáng thất vọng, một bài thuộc dạng "đinh" trên tờ báo lớn của TP HCM mà lại chỉ giống như một bài đưa ý kiến vu vơ dù được trang điểm bằng một vài số liệu lấy trong bảng xếp hạng của Scimago, một bảng xếp hạng mới mà giá trị vẫn còn những chỗ tranh cãi. Xin nêu rõ từng điểm dưới đây, với các trích dẫn tương ứng, cùng phần tranh luận của tôi.

1. Về số lượng ít ỏi của các công trình trong lãnh vực khoa học giáo dục tại VN

* Hai tác giả khẳng định: "Trong khoảng thời gian từ 1996-2010, ngành KHGD của VN công bố được 39 công trình nghiên cứu khoa học trên các tập san quốc tế. Con số này chiếm khoảng 9% tổng số ấn phẩm trong ngành khoa học xã hội [...]. Đó là một con số rất khiêm tốn khi đối chiếu với số người chuyên làm về nghiên cứu giáo dục trên cả nước."

Phần tranh luận của tôi:

Số lượng 39 công bố khoa học trong khoảng thời gian 15 năm nói trên có lẽ là thực sự ít và đáng thất vọng, nhưng đó là hệ quả đương nhiên của một nền khoa học yếu kém toàn diện cho tất cả các ngành. Khi các tác giả nói rằng đây là một con số rất khiêm tốn so với số người chuyên làm về nghiên cứu giáo dục, thì xin hỏi các tác giả:

(a) đã nắm được tổng số những người chuyên làm về nghiên cứu giáo dục tại VN chưa, nếu đã có thì xin hỏi số liệu thu thập ra sao, những người như thế nào thì được xem là chuyên làm về nghiên cứu giáo dục trên cả nước, và

(Tái bút ngày 27/10: Khi đọc lại bài báo ngày 25/10 thì tôi thấy câu hỏi này thực ra là thừa vì chính các tác giả đã khẳng định trong bài báo là mình không có số liệu trong tay; tuy vậy, không có số liệu nhưng vẫn có thể kết luận được rằng số lượng công bố khoa học quốc tế của ngành giáo dục VN như thế là RẤT KHIÊM TỐN - một tuyên bố xem chừng rất thiếu khiêm tốn!)

(b) quan trọng hơn, là ngay cả nếu các tác giả đã nắm được những số liệu này (nếu có, lẽ ra các tác giả nên nêu rõ cho bạn đọc biết, không cần dài dòng mà chỉ cần một con số cụ thể như 50 ngàn người chẳng hạn) thì hiện nay chúng ta đã có những chuẩn so sánh nào để kết luận rằng trung bình 2 bài báo khoa học một năm cho toàn "ngành khoa học giáo dục" của VN là rất khiêm tốn?

Rất khiêm tốn là so với ai, so với ngành khác trong nước hay so với những nước lân cận và nếu thế thì là ngành nào hoặc nước nào? Nếu không trả lời được những câu này thì lời khẳng định nói trên chỉ là những lời khẳng định vu vơ, thiếu căn cứ. (Xin mở ngoặc nói thêm là ngay cả việc dùng cụm từ "ngành KHGD" của hai tác giả nói trên cũng rất đáng tranh cãi, nhưng ở đây tôi tạm bỏ qua việc này để tập trung vào những vấn đề hệ trọng hơn).

* Kế đến, các tác giả tiếp tục khẳng định: "Phân tích nội dung của các công trình nghiên cứu này cho thấy phần lớn lại liên quan đến đào tạo trong y khoa và là kết quả của các dự án hợp tác quốc tế trong giáo dục sức khỏe (16 bài). Chỉ có bốn công trình nghiên cứu liên quan đến ngôn ngữ học. Tính chung, số bài viết về KHGD thực thụ chỉ có 13 bài."

Tranh luận:

* Các tác giả dựa vào đâu để cho rằng các nghiên cứu liên quan đến đào tạo trong y khoa (hay giáo dục sức khỏe) không phải là nghiên cứu về KHGD "thực thụ"? Nếu chúng không phải là nghiên cứu giáo dục thì chúng thực ra thuộc về lãnh vực nào? Liệu chúng có thể được xem là nghiên cứu y khoa "thực thụ" hay chăng?

Trong kinh nghiệm của tôi thì tôi những bài báo thuộc loại "nghiên cứu về đào tạo trong ngành y" sẽ liên quan đến các vấn đề về chương trình và phương pháp đào tạo bác sĩ hay nhân viên y tế cộng đồng, hoặc về hoạt động giáo dục sức khỏe, và không thể được xem  là nghiên cứu y học. Nhưng tất nhiên tôi chưa khẳng định; đây mới chỉ là suy nghĩ riêng chưa kiểm chứng, nếu muốn phát biểu công khai trên nhằm hướng dẫn dư luận và tham mưu chính sách chắc chắn phải kiểm tra lại. Và như vậy, các tác giả dựa vào tiêu chí nào để nhận diện những nghiên cứu khoa học giáo dục "thực thụ"?

* Một thắc mắc khác là dựa vào tiêu chí nào mà tác giả loại ra các nghiên cứu về đào tạo trong y khoa vì không phải là nghiên cứu giáo dục "thực thụ", nhưng những nghiên cứu mà tác giả cho là liên quan đến ngôn ngữ học (tổng cộng là 4 bài, theo hai tác giả Ly và Tuấn) thì lại may mắn được để lại trong số 13 bài được xem là "thực thụ"?

Theo tôi, ở đây hẳn có sự nhầm lẫn về số liệu, vì nếu nghiên cứu ngôn ngữ thì phải đưa về nhóm Linguistics and Language cũng có trong hệ thống phân loại của Scimago, chứ không thể để vào nhóm giáo dục. Trừ phi đây là những bài liên quan đến giảng dạy ngôn ngữ. Trong trường hợp đó chúng tương ứng hoàn toàn với 16 bài về "đào tạo trong y khoa" theo lời của hai tác giả Ly và Tuấn. Sao lại "nhất bên trọng, nhất bên khinh" như thế này? Xin chờ câu trả lời của hai tác giả hoặc của báo Tuổi Trẻ.

* Cuối cùng, theo cùng nguồn số liệu mà các tác giả đã trích dẫn (http://www.scimagojr.com/countrysearch.php?region=Asiatic%20Region), nhóm Linguistics and Language trong cùng thời gian 15 năm đã nêu chỉ có 5 công bố quốc tế mà thôi. Vậy mà, theo cảm nhận cùng kinh nghiệm riêng của tôi thì số người chuyên làm nghiên cứu ngôn ngữ nếu không đông hơn thì cũng phải tương đương số người chuyên làm nghiên cứu giáo dục tại VN, như có thể thấy qua số lượng tiến sĩ  đã tốt nghiệp ngành ngôn ngữ trong và ngoài nước của VN.

Điều này có thể dễ dàng kiểm chứng bằng cách  so sánh số lượng nghiên cứu sinh ngành ngôn ngữ và  ngành giáo dục được cấp bằng tiến sĩ trong 5 năm trở lại đây ở hai trung tâm đào tạo khối ngành khoa học xã hội và nhân văn (tức có cả giáo dục và ngôn ngữ) là Hà Nội và thành phố HCM.

Nếu số liệu công bố khoa học của ngành giáo dục là 39 bài trong 15 năm, hay 13 bài nếu chỉ tính những bài "thực thụ" mà đã bị hai tác giả xem là báo động, thì liệu phải dùng từ nào để nói về tình trạng công bố khoa học của ngành ngôn ngữ đây? Xin nhớ rằng ngành ngôn ngữ bao gồm cả các ngoại ngữ, và trong số này hẳn phải có những người đi học ở nước ngoài. Chẳng lẽ những con số đập vào mắt như vậy mà các tác giả khi vào đọc số liệu của Scimago để viết một bài viết quan trọng như vậy lại không nhìn thấy?

---------------
Chỉ mới có vài đoạn mà bài báo đã cho thấy có quá nhiều chỗ mơ hồ và thiếu căn cứ như trên, khiến tôi rất băn khoăn và tự hỏi liệu những lỗi trên có phải là từ hai tác giả, hay do lỗi của tòa báo đã biên tập và cắt xén, thêm bớt câu chữ và số liệu tùy tiện để ảnh hưởng đến chất lượng bài báo hay chăng?

Cũng vì sự băn khoăn nói trên mà tôi phải vào tận trang Scimago để ngồi nghiền ngẫm và đọc kỹ bộ số liệu gốc, dù đang trong thời gian rất bận. Tôi cần đọc chúng để có thể đưa ra những phán đoán có cơ sở về chất lượng và giá trị của những kết luận của bài báo. Và càng đọc thì càng thấy băn khoăn nhiều hơn, như các bạn sẽ thấy trong những phần tiếp theo của bài  tranh luận này.

Tuy nhiên, vì bài viết đã quá dài nên tôi tạm dừng lại để hoàn tất những công việc khác, rồi sẽ quay lại tiếp với nhiều thắc mắc, và căn cứ để khẳng định rằng các tác giả của bài báo nói trên đã sai! Nói ngắn gọn, tôi thấy rằng bài báo trên khá giống những nhận xét mà tôi và một số đồng nghiệp hay đưa ra cho các sinh viên cao học khi bảo vệ không thành công, phải sửa chữa, hoàn chỉnh lại luận văn Thạc sĩ, đó là: những kết luận nào nghe hợp lý thì không có liên quan gì đến số liệu của nghiên cứu, còn những kết luận nào rút ra từ số liệu của nghiên cứu thì lại rất vô lý hoặc có nhiều sai sót.

(còn tiếp)
Người đăng: Unknown
Nguyễn Hồng Minh. Được tạo bởi Blogger.
Hot girl Viet Nam Click Here
Hot girl Viet Nam Click Here