Thủ thuật tin học

Thủ thuật tin học

Máy tính là gì ?

Thủ thuật tin học
Thủ thuật tin học

Thủ thuật tin học

Hệ điều hành là gì ?

Thủ thuật tin học
Thủ thuật tin học

Thủ thuật tin học

Word office là gì ?

Thủ thuật tin học
Thủ thuật tin học

Thủ thuật tin học

Trình duyệt web

Thủ thuật tin học
Thủ thuật tin học

Thủ thuật tin học

Bác sĩ máy tính

Thủ thuật tin học

Thứ Năm, 1 tháng 8, 2013

Bản dịch này tôi thực hiện để cung cấp cho một người bạn đồng nghiệp chuyên nghiên cứu và giảng dạy về một lãnh vực mà tôi rất thích nhưng đã không (dám) chọn làm cái nghiệp để theo đuổi: Văn học. 

Chọn dịch về mỹ học hậu hiện đại là bởi vì anh bạn của tôi đã từng soạn giáo trình và giảng dạy môn Mỹ học đại cương trong nhiều năm, nhưng cảm thấy mình cần cập nhật thông tin cho giáo trình đã soạn để theo kịp với những đổi thay và phát triển của khoa học. Vì thấy những hiểu biết về chủ nghĩa/trường phái hậu hiện đại ở VN vẫn còn rất thiếu, nên tôi "xung phong" tìm và dịch về mỹ học hậu hiện đại để anh bổ sung vào giáo trình của mình - là điều mà bạn tôi (nay đã về hưu những vẫn đầy một tình yêu với nghề nghiệp mà mình đã chọn và bỏ cả cuộc đời ra để theo đuổi) đang âm thầm thực hiện.

Chắc chắn khi giáo trình ấy được bổ sung thì sẽ rất là một đóng góp quan trọng trong ngành. Nhưng trong khi chờ đợi (có lẽ không nhanh lắm) thì tôi cũng muốn đưa bản dịch ấy lên đây chia sẻ để các bạn nào cần thì đọc tạm. Tôi nghĩ, dù bản dịch này chỉ rất ngắn thôi, nhưng nó cũng cung cấp những thông tin cần thiết để hiểu về tinh thần của hậu hiện đại, là điều rất cần thiết cho các ngành XHNV hiện nay, để theo phần nào kịp sự phát triển về lý luận của thế giới. 

Bản dịch đã được đọc và góp ý bởi người bạn của tôi - mà tôi cũng đồng thời xem là một người anh và là người thầy. Vì văn phong của tác giả bản gốc hơn hàn lâm nên viết hơi nặng, tôi đã thêm vào những phần ngắt đoạn cho ngắn bớt để dễ theo dõi hơn. Ngoài ra, do bản dịch là một phần của một bài viết dài hơn về một vấn đề rộng hơn nên câu mở đầu có vẻ hơi đột ngột, vì còn thiếu phần trước nó. Tuy nhiên, toàn bộ nội dung trong bài cũng có thể tạm được xem đầy đủ để giới thiệu mỹ học hậu hiện đại một cách vắn tắt nhất. Hy vọng nó có ích cho các bạn. 

Bản gốc tiếng Anh các bạn có thể đọc ở đây:
http://it.stlawu.edu/~pomo/mike/aesthetic.html
-------------------

Mỹ học hậu hiện đại[1]
 

Bây giờ là lúc tuyên bố rõ ràng hơn về vấn đề những phản ứng chính trị hậu hiện đại trong thế giới ngày nay. Tôi đã đề cập đến nó trong suốt cuộc thảo luận nhưng lúc này là thời gian để dành nhiều thời gian với nó, để đưa ra câu hỏi là quả thực tại sao người ta lại chối bỏ lý tính, chối bỏ “tự sự”, và chối bỏ cấu trúc. Nhưng, nếu muốn có được một hiểu biết tốt về "chính trị" hậu hiện đại thì rõ ràng là rất quan trọng, nếu không nuốn nói là cần thiết, phải hiểu về mỹ học hậu hiện đại trước đã. Bởi vì –  như chúng ta sẽ thấy – mỹ học hậu hiện đại rõ ràng đã lan sang, và tạo ra hình dạng của chính trị hậu hiện đại. Vậy, mỹ học hậu hiện đại là gì?

Mỹ học hậu hiện đại được đánh dấu bằng sự nhấn mạnh
hình tượng hơn là diễn ngôn. Điều này có nghĩa là hậu hiện đại coi trọng tác động của nghệ thuật hơn là ý nghĩa của nghệ thuật, cũng như cảm giác nghệ thuật tạo ra hơn là việc diễn giải ý nghĩa của nó. Sự nhấn mạnh như vậy về tác động của nghệ thuật có liên quan đến mong ước của Heidegger[2] muốn được nghe những lời nói như thể mới được phát ra lần đầu tiên, để "sức mạnh cơ bản của chúng" tự lan tỏa. 


Tuy nhiên, những sở thích mang tính hậu hiện đại như vậy thực ra đã được ghi nhận lần đầu tiênqua lời phát biểu của nhà phê bình nghệ thuật Susan Sontag[3] vào giữa thập niên 1960. Sontag cho rằng chủ nghĩa hiện đại quá thiên về khía cạnh "trí tuệ" đến mức hy sinh “tiềm năng về năng lượng sự gợi cảm" của nghệ thuật (trích trong Lash, trang 176). Một lần nữa, điều này có liên quan với những gì chúng ta đã nêu về Heidegger, người vốn có quan điểm rằng triết lý không phải là một phương tiện để hiểu biết  thêm bất cứ điều gì về thực tại nữa, chỉ để trải nghiệm nó, thêm một lần rồi lại thêm một lần nữa. 

Sontag tin rằng việc diễn giải là "sự trả thù của trí tuệ đối với nghệ thuật", và rằng một tác phẩm nghệ thuật không phải là một "văn bản", mà là một sản phẩm "xúc cảm" trong thế giới (176). Quan niệm này chú trọng vào nghệ thuật như một trải nghiệm "xúc cảm" hơn là một trảinghiệm trí tuệ, và mở đường cho chủ nghĩa hậu hiện đại nhấn mạnh vào hìnhảnh hơn là tường thuật nhấn mạnh yếu tố hình tượng hơn là yếu tố diễn ngôn (có thể hiểu nôm na như thế này: đừng kể về hạnh phúc của bạn, mà hãy chỉ tôi; cũng vậy, đừng kể là điều ấy tàn ác như thế nào, hãy cho tôi nhìn thấy nó!)

Các thuật ngữ “biểu tượngdiễn ngôn” theo cách hiểu của Lyotard[4] giúp hỗ trợ về lý luận cho cách phân biệt của Sontag giữa một bên là nghệ thuật hậu hiện đại với những khái niệm tác động, bề mặt, và xúc cảm và bên kia là nghệ thuật hiện đại với những khái niệm ý nghĩa, chiều sâu, và diễn giải. Lyotard mô tả hình tượng” như những quá trình chính của vô thức”, tương tự như khái niệm tự ngã – the id” của Freud[5], so với khái niệm “diễn ngôn mà ông mô tả là quá trình trung gian, tương tự như những gì Freud gọi là bản ngã – the ego”. Vì vậy, những gì Lyotard và các nhà hậu hiện đại khác mong muốn trong nghệ thuật là sự "giải mã" và sau đó "giải thuộc địa" của các nguồn năng lượng dục vọng” mà ngôn ngữ, văn bản, và tri thức đã hệ thống hóa, kiểm duyệt và đàn áp. 

Để làm như vậy, nghệ thuật hậu hiện đại chuyển trọng tâm khỏi cái biểu đạt (signifiers) của chủ nghĩa hiện đại để nhấn mạnh vào cái được biểu đạt (signified) và do đó ưu tiên cho hình ảnh hơn là tường thuật. Sự sụp đổ này cộng với sự “giải khu biệt hóa” (de-differentation) cái biểu đạt vàocái được biểu đạt đã dẫn đến việc mất ý nghĩa, chiều sâu, và sự diễn giải, bởi không còn có sự tương tác giữa các đại diện của thực tại (tức cái biểu đạt) và chính thực tại ấy (tức cái được biểu đạt). Sự giải khu biệt hóa nay làm tăng tác động của nghệ thuật, vì không còn cái biểu đạt đóng vai trò trung gian, tạo ra khoảng cách, và làm giảm mong muốn của người xem. Nghệ thuật trở thành một trải nghiệm có tính tham dự, trong đó khán giả tiếp nhận và xử lý như họ có thể, các dòng chảy của năng lượng dục vọng mà các nghệ sĩ đã giải thoát [trong các tác phẩm của mình].

Nghệ thuật phê bình, trong bối cảnh này, do đó trở thành một cái gì đó như một “nghịch ngữ”, và được thay thế bởi những bổ sung nghệ thuật”, trong đó người xem tạo ra [thêm] một cái gì đó trong sự đánh giá của mình để tiếp tục giải phóng nguồn năng lượng của tác phẩm, khiến cho người khác cảm nhận được tác động mà tác phẩm nghệ thuật đã tạo ra ngay trong đánh giá của mình. Vì vậy, đối với nhà hậu hiện đại, điều quan trọng không phải nghệ thuật có ý nghĩa gì, mà là nghệ thuật gây ra được tác động gì. Từ đó sẽ biến mất cái cảm giác rằng ngôn ngữ dường như khống chế nghệ thuật, và các quá trình chính của vô thức được giải phóng và được giải mã hóa khỏi các quá trình có tính quy ước xã hội học của bản ngã.

Điểm cuối cùng cần nêu ở đây chủ nghĩa hậu hiện đại không còn xem giá trị thẩm mỹ là tương đương với cái đẹp. Thay vào đó, Lyotard gợi ý rằng giá trị thẩm mỹ phải là cái “siêu phàm” (sublime – còn gọi là trác tuyệt) Lyotard quan niệm cái siêu phàm là một hỗn hợp giữa niềm vui và nỗi đau, của sự cảm động (pathos) tính chịu đựng bền bỉ – một đặc tính của nhân vật bi kịch, giữa ngọt ngào và tội lỗi, giữa cái xinh xắn và đất bẩn. Mục tiêu của giá trị thẩm mỹ, Lyotard khẳng định, là "trình bày cái không thể bày ra", để đi tìm sự sùng bái trên các đường phố chứ không phải là trong nhà thờ (dẫn trong Lash, 110). 


Đặc điểm thẩm mỹ nêu trên của "cái siêu phàm", vượt qua cả những phạm trù đạo đức như "cảm giác này thì tốt, cảm giác kia là xấu, vật này có mùi thơm, vật kia có mùi hôi, cái này đẹp, cái kia xấu", đã tóm tắt được tinh thần giải khu biệt vốn là đặc trưng của chủ nghĩa hậu hiện đại, mà theo lời của John Cage, "nhằm đánh thức mọi người với chính cuộc sống chúng ta đang sống", còn nếu theo lời của Leslie Fiedler "cố gắng để vượt qua biên giới, thu hẹp khoảng cách". Theo Marshall Berman, điều này có nghĩa là phá vỡ những rào cản giữa nghệ thuật và các hoạt động khác của con người, chẳng hạn như các ngành giải trí, kỹ thuật công nghiệp,  thời trang và thiết kế, và cả chính trị nữa "(Berman, 32).
 ------------------------

[2]Heiddeger là triết gia Đức đầu thế kỷ 20 (1889-1976) ; tham khảo ở đây: http://vi.wikipedia.org/wiki/Martin_Heidegger
[3]Susan Sontag, một tác gia quan trọng người Mỹ của hậu bán thế kỷ 20, 1933-2004, tham khảo ở đây:  http://en.wikipedia.org/wiki/Susan_Sontag
[4]Lyotard là một tác giả trung tâm của lý thuyết hậu hiện đại; tham khảo ở đây: http://thuykhue.free.fr/stt/h/HHD.html
[5]Cần tìm hiểu thêm về Freud và id; có thể tham khảo ở đây: http://lambamblog.wordpress.com/2012/03/20/phan-tam-h%E1%BB%8Dc-nh%E1%BA%ADp-mon-sigmund-freud/

Người đăng: Unknown

Thứ Ba, 30 tháng 7, 2013

Một tài liệu rất cần đọc cho những nhà hoạch định chiến lược, và những ai quan tâm đến giáo dục đại học nói chung. Có thể download từ đây: http://www.mfdps.si/Files//Knjiznica/higher%20educational%202030%20OECD.pdf

Tài liệu dài 360 trang, gồm 11 chương, trong đó tôi quan tâm đến những chương cuối từ chương 8 trở đi. Vì đó là những chương có liên quan đến những vấn đề tôi đang tìm hiểu, nghiên cứu, và cũng là những vấn đề ít được nghiên cứu tại VN nhất. Đó là những vấn đề: giáo dục đại học tư nhân, tài chính cho giáo dục đại học, và đảm bảo chất lượng giáo dục đại học. Xin nêu mục lục của các chương ấy dưới đây:

Chapter 8. Mass Higher Education and Private Institutions - Giáo dục đại chúng và các trường đại học tư
by Pedro Teixeira  (tr. 231)
8.1. Introduction (tr. 232)
8.2. The long history and recent expansion of private higher education  (tr. 232)
8.3. Some stylised facts on private higher education  (tr. 244)
8.4. What future role for private higher education in times 
of mass higher education? (tr. 252)


Chapter 9. Finance and Provision in Higher Education: A Shift from Public to Private? Tài chính và hỗ trợ tài chính trong giáo dục đại học: Chuyển từ công sang tư?
by Stéphan Vincent-Lancrin  (tr. 259)
9.1. Introduction (tr. 260)
9.2. Trends in enrolments in public and private higher education (tr. 260)
9.3. Is public funding declining in higher education? (tr. 266)
9.4. Concluding remarks (tr. 279)

Chapter 10. Scenarios for Financial Sustainability of Tertiary Education - Các kịch bản về tính bền vững về mặt tài chính của giáo dục đại học 
by Jamil Salmi (tr. 285)
10.1. Introduction (tr. 286)
10.2. Trends and factors shaping tertiary education financing (tr. 287)
10.3. The changing face of public financing: funding approaches and instruments (tr. 297)
10.4. Three scenarios for the future (tr. 306)
10.5. Conclusion (tr. 316)

Chapter 11. Quality Assurance in Higher Education – Its Global Future - Đảm bảo chất lượng trong giáo dục đại học - Tương lai toàn cầu 
by Richard Lewis (tr. 323)
11.1. Terminology (tr. 324)
11.2. The development of quality assurance (tr. 325)
11.3. The growth in external quality assurance agencies over the last 20 or so years (tr. 326)
11.4. The “standard model” and the differences within that model (tr. 328)
11.5. Emerging trends and the future of external quality assurance (tr. 333)
11.6. The breaking down of national boundaries (tr. 342)

Đọc mục lục thôi, cũng đủ thấy đây là một tài liệu đáng đọc rồi phải không các bạn. Khi có thời gian, chắc chắn tôi sẽ phải dịch dần từng phần, và sẽ đưa lên đây chỉa sẻ với các bạn thôi. Còn trong khi chờ đợi (chắc là đợi lâu), các bạn phải tự mình đọc bằng tiếng vậy. Ai có dịch được đoạn nào thì chia sẻ nhé, tôi sẽ đăng lên cho mọi người cùng đọc luôn.

Enjoy!
Người đăng: Unknown

Thứ Năm, 25 tháng 7, 2013

Entry dưới đây là một ngoại lệ trên blog này, vì nó không phải là một bài do tôi viết (ngoài lời dẫn này) mà bài đăng lại của người khác - là điều mà tôi hầu như không bao giờ làm, trừ phi được yêu cầu (đăng dùm những người không có chỗ để đăng). Vì tôi nghĩ việc đăng lại không làm tăng thêm lượng tri thức cho xã hội, là điều mà tôi nhắm đến khi viết blog.

Nhưng hôm nay thì khác. Tôi phải đăng lại bài của người khác vì hai lẽ:

1. Nhiều lý lẽ trong bài dưới đây trùng hoàn toàn với ý tưởng của tôi, nhưng được diễn đạt một cách xuất sắc hơn tôi rất nhiều; còn những gì khác với ý tưởng của tôi thì lại bổ sung hoặc điều chỉnh một cách hoàn hảo cho những gì tôi đã viết ra liên quan đến luận văn của ĐTT hoặc về nhóm Mở miệng.

Vì vậy, đăng bài này sẽ có tác dụng củng cố, bổ sung, hoặc điều chỉnh những gì tôi đã viết trước đó. Đó cũng là cách giúp tôi có trách nhiệm với những bạn đọc blog này, mà tôi đoán đa số là các học viên của tôi (hoặc có thể không học nhưng có biết tôi với tư cách một giảng viên).

2. Bài viết của anh Nguyễn Vạn Phú, một nhà báo tài năng (theo đánh giá của tôi) là một trong rất ít những bài viết xem xét cuốn luận văn của ĐTT dưới cái nhìn cởi mở và khoa học, nên tôi thấy có trách nhiệm phải phổ biến nó ra để rộng đường dư luận. Hơn nữa, nó đã chỉ ra những điểm mà nhiều người Việt Nam nói chung và những người làm việc trong lãnh vực khoa học và giáo dục - đào tạo nói riêng (trong đó có tôi), đã không nhìn ra - hoặc do không có khả năng để nhìn, hoặc do bị bối rối trước hàng loạt các bài viết đầy tính quy chụp, đấu tố trên báo chí nên đã bỏ sót.

Theo tôi, những điểm cần lưu ý trong bài viết của anh NVP là:

(a) Luận văn của ĐTT nghiên cứu về nhóm MM, nên đương nhiên phải trích dẫn thơ của họ, dù để khen - chê, hay chỉ để hiểu và mô tả (đây là lựa chọn của ĐTT). Cũng vậy, vì nhóm MM ra đời trong một bối cảnh thời đại ở VN với những đặc điểm về kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể, nên việc mô tả lại bối cảnh này một cách khách quan là cần thiết. Không thể nói việc ĐTT trích đăng lại những thơ của MM hay đề cập đến tình hình chính trị xã hội của VN trong luận văn là phản động được.

(b) Nhóm MM là một phần của thực tại xã hội VN, và dù có hay không có LV của ĐTT thì những hiện tượng "phản kháng" tương tự vẫn cứ tồn tại song song với "dòng chính". Nói theo biện chứng pháp thì đó chính là quy luật mâu thuẫn, tức quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập (ai quên Triết học Mác - Lênin đã học hồi đi học đại học thì google mà đọc lại nhé).

Như vậy, việc nghiên cứu nó là rất cần thiết, và thực sự là một đóng góp, ngay cả và trước hết là cho những người có quan điểm chính thống - nói đúng hơn là quan điểm thống trị - về văn học và vai trò của văn học trong xã hội. Chủ nghĩa tư bản đã đi từ một phiên bản hoang dã, tàn ác, đẫm máu sang một CNTB có rất nhiều cải thiện như hiện nay cũng chính vì nó đã biết lắng nghe những tiếng nói trái chiều (tức là chúng ta, những người theo chủ nghĩa cộng sản) để tự điều chỉnh.

Những ví dụ cụ thể và gần gũi hơn có thể kể là: "câu chuyện thành công" của TQ trong việc vận dụng quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập: ngay trong thời còn tồn tại chiến tranh lạnh, TQ đã sớm bắt tay với Hoa Kỳ, trước khi cuộc chiến tranh VN kết thúc, đồng thời bắt đầu áp dụng ngay quy luật kinh tế thị trường - mặt đối lập của quy luật kinh tế kế hoạch tập trung của các xã hội cộng sản - để tạo ra sự phát triển kinh tế thần kỳ trong mấy thập niên qua. Sự sụp đổ của Liên Xô, trái lại, là hậu quả của việc che giấu, bưng bít sự thật.

Nhân tiện, xin tiết lộ thêm: Tôi không quen biết gì ĐTT cả, nhưng khi có vụ om xòm về LV này, tôi đã đọc nhanh những gì ĐTT công bố trên trang damau.org dưới bút hiệu Nhã Thuyên và sau đó viết vài bài trên blog và gửi cho "cô giáo trẻ" (lời của NVP) này. Trong cả hai bài viết của mình, tôi khẳng định nhóm Mở Miệng là hậu hiện đại và vì thế (hàm ý) khẳng định rằng Nhã Thuyên đang nghiên cứu về hậu hiện đại, muốn đánh giá cô thì phải dựa vào hậu hiện đại. 

Viết xong, tôi gửi link hai bài trên cho Nhã Thuyên trên blog của cô (ở đây: nhathuyen.com) để trao đổi, và đã nhận được một comment dài của cô, mà tôi sẽ đăng lại dưới phần nhận xét của tôi. Quả thật, khi đọc được comment ấy của cô thì từ chỗ không quen biết tôi đã thực sự quý mến người bạn trẻ này vì tinh thần tư duy độc lập của cô ấy. Hai bài viết của tôi dựa trên lập luận rằng hậu hiện đại là một trào lưu tư tưởng rất phổ biến hiện nay ở phương Tây, và chúng ta vì đã hội nhập nên cần có những người hiểu biết và nghiên cứu về hậu hiện đại ở VN. 

Có thể xem hậu hiện đại chính là lập luận nhằm bênh vực cô ấy, mặc dù tôi - cũng như Nhã Thuyên với nhóm MM - chỉ quan tâm đến luận văn của ĐTT như một hiện tượng trong ngành giáo dục mà tôi cần hiểu, chứ không có ý định khen hay chê gì cả. Nhưng thật bất ngờ, NT đã không vớ lấy lập luận ấy như người chết đuối vớ lấy cọng rơm, mà khẳng định rằng mặc dù MM có thể gần với hậu hiện đại, nhưng cô đang không dùng lý luận của hậu hiện đại (và tránh không dùng từ hậu hiện đại vốn được hiểu một cách khá mơ hồ ở VN) mà đang muốn nhìn cách thực hành thơ (chứ không phải là chính bản thân các "sản phẩm thơ") của MM trên một điểm tựa văn hóa và dưới khía cạnh văn học sử chứ không phải dưới ánh sáng của các lý thuyết văn học. 

Xin đọc comment của NT dưới đây (tôi có cắt đoạn ra cho dễ theo dõi hơn, và in đậm vài chỗ để nhấn mạnh):

Thực ra “hậu hiện đại” là một dạng nhãn mà em luôn tránh phải dùng đến. Một điểm tựa để em tiếp cận đối tượng trong luận văn là khái niệm lề (margin)trong nghiên cứu văn hoá (cutural studies) – và đó là cái mà gọi là “góc nhìn văn hoá” của luận văn. Tên luận văn nói rõ điều đó: Vị trí của kẻ bên lề: thực hành thơ của nhóm MM từ góc nhìn bên hoá. Nếu lý tưởng, từ cái nhan đề, “vị trí kẻ bên lề” là cách em nhìn đối tượng, “thực hành thơ” (chứ không phải những thực hành chính trị, nếu có) là điểm em khai thác ở MM, và thực hành thơ – chứ không phải chỉ là thơ – vì thơ của họ liên quan chặt chẽ tới dạng thức samizdat (tự xuất bản) mà Mở Miệng và nxb Giấy Vụn là một trong những điểm nổi bật của phong trào tự xuất bản đương đại ở Việt Nam… Và góc nhìn văn hoá cho phép em khai thác đối tượng trong mối liên hệ với bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hoá (và do đó không thể tránh việc có những mô tả này nọ về văn hoá, chính trị) chứ không phải chỉ dùng những nhãn hiệu để đánh giá họ thành công hay thất bại

Có thể nói, luận văn là một nỗ lực và có góc nhìn phê bình hơn là ..”nghiên cứu” mang tính đo đạc (có thể có những cái khác biệt khi chị Phương Anh nghiên cứu các hiện tượng giáo dục tương tự – có thể có những sự nổi loạn trong giáo dục chăng?) …. Hậu hiện đại, em không muốn dùng, dù có vẻ như nó tương thích với Mở Miệng, là vì nó biểu hiện một cái nhìn có tính chất lịch sử, nó là một dạng nhãn hiệu vừa khó cắt nghĩa (vì dù có gọi tên bằng các tính chất như giải thiêng, phá vỡ trung tâm, v..v thì mỗi người có một cách cắt nghĩa khác nhau về thuật ngữ này) vừa mơ hồ vì các thời điểm và tính chất được sử dụng… Trong tiểu luận của em trên Damau về Mở Miệng, em cố gắng cân bằng giữa những quan sát và những sự đọc có tính chất phê bình.

Dẫu sao, nói gọn lại, luận văn của em là một góc tiếp cận văn học sử chứ không dựa trên lập thuyết và tìm ví dụ minh hoạ cho lập thuyết của mình.


Cảm ơn chị Phương Anh đã có những trao đổi mà em nghĩ có thể nghĩ và bàn bạc thêm nữa.

Viết thêm lời dẫn và đăng bài của anh NVP lên đây, tôi chỉ mong rằng vụ việc sẽ được xử lý ổn thỏa, có tình có lý, có tính khoa học, và không để lại một tiền lệ xấu cho nền khoa học còn vô cùng non trẻ và yếu ớt của chúng ta, Tôi nghĩ, có lẽ không một ai, ngay cả Ban Tuyên giáo Trung ương, lại có chủ trương rằng bất cứ ai không hề có chuyên môn cũng có thể nhân danh những giá trị "chính thống" để kêu gọi đánh giá lại thành quả lao động của các nhà khoa học, đặc biệt là những người này lại là những nhà khoa học có tên tuổi đang làm việc ở một cơ sở giáo dục công lập có truyền thống và danh tiếng.

Nếu tôi không lầm thì Luật giáo dục đại học của chúng ta (áp dụng từ đầu năm nay) đã được soạn thảo với tinh thần tăng thêm quyền tự chủ cho các trường. Lẽ nào lời nói của Hội nhà văn, của báo chí, và của dư luận (nếu có) lại có trọng lượng hơn những phán đoán khoa học của một cơ sở giáo dục công lập đã có bề dày truyền thống và đã đào tạo ra nhiều thế hệ lãnh đạo của Việt Nam, hay sao? Nếu quả thật thế, thì làm sao trách được rằng ngành giáo dục của chúng ta đào tạo không có chất lượng, và làm sao đòi hỏi VN phải có nhiều công trình khoa học hơn để sánh vai được với các nước khác trong khu vực ASEAN?

Cuối cùng, xin lỗi anh NVP vì đã viết quá dài để dẫn bài viết mà một người bạn của tôi, cũng là giảng viên và nhà nghiên cứu văn học ở một đại học công, đã khen là "viết ngắn gọn, lập luận chắc nịch", khiến bài viết mất đi sự nổi bật lẽ ra phải có để cho xứng đáng. Nhưng thôi, bài của anh NVP thì dù có ở vị trí nào cũng sẽ nổi bật, "gió Đông thổi bạt gió Tây", nên chắc chắn là anh không phiền đâu nhỉ. Và rất cám ơn anh đã cho phép đăng lại ở đây. 

Tôi nghĩ, với bài viết này của anh Phú thì tôi cũng có thể khép lại hoàn toàn vấn đề này rồi; mấy ngày nay tôi mất thì giờ vào vụ luận văn của NT quá, mà tôi có phải là dân lý luận văn học đâu cơ chứ! Bàn chuyện này cũng chỉ vì nó là một hiện tượng nổi bật trong thời gian gần đây trong ngành giáo dục khiến tôi phải quan tâm mà thôi.

Các bạn đọc bài của anh NVP dưới đây nhé. Cho đến khi tôi đăng lên đây thì bài viết ấy đã có đến 30 người share lại! Hoan hô anh NVP! (Những chỗ in đậm trong bài của NVP là do tôi nhấn mạnh).
--------------
https://www.facebook.com/nguyenvanphu/posts/10201080775095190

Hận cá, chém thớt

(về luận văn của Nhã Thuyên – Đỗ Thị Thoan)

Có lẽ nhiều người biết đến Hầu tước de Sade, một nhà văn Pháp sống ở thế kỷ 18, viết toàn tiểu thuyết dâm dục, miêu tả cặn kẽ chuyện làm tình, cảnh bạo dâm, khổ dâm còn ghê hơn nhiều truyện khiêu dâm chính cống. Nhưng dù muốn dù không người ta vẫn xem ông là nhà văn, thậm chí có người còn cho ông là tiên phong của chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa siêu thực…

Giả thử có một sinh viên cao học làm luận văn thạc sĩ về ông này, với luận đề “tình dục trong văn de Sade là biểu hiện nổi loạn của một người theo chủ nghĩa cá nhân cực đoan”. Có thể nào chê trách luận văn này tràn đầy những câu trích “trắng trợn” về tình dục? Có thể nào lên án người sinh viên cổ xúy cho lối sống phóng túng, bạo dâm?

Những người phê phán luận văn “Vị trí của kẻ bên lề: thực hành thơ của nhóm Mở Miệng từ góc nhìn văn hóa” của Đỗ Thị Thoan cũng rơi vào chỗ tương tự: thay vì ném sự phẫn nộ của họ vào nhóm Mở Miệng họ lại chĩa mũi dùi vào người nghiên cứu nó, tạo ra một tiền lệ chưa từng thấy: báo chí phổ thông, nhà phê bình văn học lại đi phê bình một luận văn thạc sĩ của một trường đại học. Bởi vậy họ không nói gì đến phương pháp luận, tính khoa học, cách thể hiện của luận văn, họ chỉ tìm những câu trích phục vụ cho việc phê phán nói trên.

Đáng sợ là những trường hợp, dù thú nhận chưa đọc luận văn nhưng cũng “hai lần lên diễn đàn đề nghị các cơ quan chức năng phải làm việc nghiêm khắc và xử lý thích đáng đối với tác giả bản luận văn cũng như hội đồng chấm luận văn”.

Có thể nói ngay luận văn của Đỗ Thị Thoan là một công trình nghiêm túc, công phu, được viết một cách cẩn trọng, với những quan sát sâu sắc, cách diễn đạt lôi cuốn, tính thuyết phục khá cao. Lớp già như tôi có thể tự hào về một lớp trẻ như Đỗ Thị Thoan, hoàn toàn không như định kiến thường có về một lớp trẻ hời hợt, chỉ biết sao chép. Toát lên từ luận văn này là nền học vấn rất tốt, sự làm việc tới nơi tới chốn, sự độc lập trong suy nghĩ, và sự thành thực trong nhiều nhận định.

Một số điểm làm tôi khâm phục cô giáo trẻ này:

- Không dùng lý thuyết phương Tây để lòe người đọc vì hiểu rõ hạn chế của cách tiếp cận này. (Cho nên đừng nghĩ luận văn nói về chuyện hậu hiện đại, nó thấm đằng sau những câu chuyện thực tế của văn học Việt Nam).

- Hiểu rõ tính nhạy cảm của đề tài khi phải gắn với chính trị, kể cả sự xứng đáng hay chưa của đối tượng nghiên cứu nhưng biết dùng nó làm đòn bẩy cho lập luận của mình.

- Hiểu rõ những sự lợi dụng hiện tượng Mở Miệng ở một số người bên ngoài, dùng nó như một cách thúc đẩy ý đồ riêng của họ.

Để đánh giá một luận văn, cần xem thử luận đề nó là gì, sau đó cách tác giả triển khai chứng minh, biện giải, thuyết phục người đọc tin vào luận đề đó như thế nào, có thành công không.

Luận văn xác định, “vấn đề then chốt là tra vấn về vị thế bên lề như một điểm tham chiếu để bình luận về những cách tân và tính cách mạng trong tư tưởng và nghệ thuật [thực hành thơ của Mở Miệng]”.

Mặc dù chương về vị thế bên lề khá dài, phần bối cảnh “hậu đổi mới” dễ gây phản ứng ở những người đọc thuộc “dòng chính” (đây là đoạn được trích dẫn nhiều nhất để gán nhãn “phản động” cho luận văn, có thể tóm tắt lập luận của người viết ở phần này như thế này: Nhóm Mở Miệng chọn vị thế bên lề như là điều kiện để có thể cách tân một cách trọn vẹn bởi “cách tân như một lẽ sống còn của nghệ thuật mới là lý do tồn tại thực sự” của họ. Như vậy mọi sự phản kháng chỉ là biểu hiện của chọn lựa vị thế bên lề, còn cách tân mới là mục đích.

Cách tân trước hết thể hiện ở hình thức tự xuất bản với những phá cách, tạo ra một không gian hoạt động riêng, là nội dung chương hai. Phần còn lại của luận văn miêu tả, bình giải những nỗ lực mà khi miêu tả chi tiết sẽ làm hoảng sợ những người bình thường vì sự vô nghĩa của ngôn từ, sự tục tĩu, bế tắc, giễu nhại, giải thiêng… khi Mở Miệng thực hành thơ.

Nếu xét về góc độ học thuật, hoàn toàn không có gì ngạc nhiên khi thấy Hội đồng chấm luận văn cho điểm 10 tuyệt đối.

Tuy nhiên, sự phẫn nộ của một số nhà phê bình, nhà văn, nhà báo là điều cũng dễ hiểu. Bởi Đỗ Thị Thoan đã chọn sai thời điểm để công bố luận văn. Như cô tự nhận xét cô không giữ được sự khách quan khi viết luận văn vì phải can dự, vì phải chọn làm kẻ ngoài lề, vì thế luận văn chọn vị trí của người nhìn vào bối cảnh đời sống chính trị hiện đại như một người bên ngoài dòng chính thống. Chỉ cần một sự phân tích khách quan, tỉnh táo, hơi lạnh lùng như thế cũng đủ làm luận văn là cái gai trong cách nhìn chính thống.

Khách quan mà nói, thời nào, nơi nào cũng sẽ có những nhóm như Mở Miệng. Lúc nào cũng có sự phản kháng, sự tác động của kẻ ngoài lề dội vào dòng chính. Để phá vỡ cái trì trệ của dòng chính, kẻ ngoài lề phải phá phách, quậy nát, phải ồn ào, tức phải đẩy tới chỗ cực đoan, quá khích. Và như một quy luật, dòng chính nhờ vậy tiến lên một mức độ mới, rồi lại rơi vào trì trệ, cần sự thúc đẩy của kẻ ngoài lề phá phách mới. Đó có thể là sự trói buộc của thần quyền thời Sade, của chủ nghĩa tư bản, của tư duy toàn cầu hóa, của các thiết chế xã hội; chứ đâu nhất thiết là thể chế hiện nay. Kẻ ngoài lề vì vậy luôn luôn là kẻ ngoài lề, khó được chấp nhận rộng rãi, chưa kể là sẽ gây dị ứng cho nhiều người (tôi đoán 10 người bạn của tôi sẽ có 9 người trong đó có tôi, dị ứng với Mở Miệng) nhưng nó phải đóng trọn vai trò của nó, rồi thôi. Dù gì đi nữa nó cũng cần được nghiên cứu và Đỗ Thị Thoan đã làm được điều đó, không khích lệ thì thôi sao lại vùi dập.
Người đăng: Unknown
Nguyễn Hồng Minh. Được tạo bởi Blogger.
Hot girl Viet Nam Click Here
Hot girl Viet Nam Click Here